Như đã chỉ ra trong Bảng 1, nhóm đầu tiên và chủ yếu gồm 72 công ty mà có sự phù hợp giữa số dư LTTM và giá trị mà LTTM phân bổ cho các CGU. Các công ty trong nhóm này được đánh giá là tuân thủ đầy đủ theo yêu cầu trình bày trong chuẩn mực. Nhóm thứ hai (tuân thủ từng phần) gồm có hai công ty mà số dư LTTM không hết cho các CGU, sự chênh lệch không phân bổ này không có sự giải thích. Nhóm thứ ba gồm 26 công ty (chiếm 1/4 trong tổng thể) không trình bày việc phân bổ LTTM cho các CGU. Những công ty trong nhóm thứ 3 được đánh giá là hoàn toàn không tuân thủ yêu cầu của HKAS 36 và như vậy kiểm tra giảm giá trị của LTTM là không thể thực hiện được.
Bảng 1: Phân bổ đơn vị tạo tiền theo ngành
| Ngành | Số lượng công ty | Tuân thủ toàn phần | Tuân thủ từng phần | Không tuân thủ |
| | | | | |
| Hàng tiêu dùng | 24 | 16 | - | 8 |
| Tài chính | 15 | 12 | - | 3 |
| Viễn thông và dịch vụ | 23 | 18 | 1 | 4 |
| Nguyên vật liệu | 11 | 7 | - | 4 |
| Năng lượng và xây dựng | 27 | 19 | 1 | 7 |
| | | | | |
| Tổng cộng (n) | 100 | 72 | 2 | 26 |
| | | | | |
Để tìm hiểu kỹ hơn về việc tổng hợp CGU, việc so sánh số CGU và số bộ phận kinh doanh là cần thiết. Thông tin trong Bảng 2 phản ánh trong số 75 công ty trình bày đầy đủ cho việc nhận dạng CGU, chỉ có 20% các công ty báo cáo số CGU nhiều hơn số bộ phận kinh doanh, trong khi đó có 24% công ty xác định số CGU bằng số bộ phận kinh doanh. Trong hai nhóm trên chỉ ra có rủi ro thấp hơn trong việc tổng hợp CGU. Khoảng 56% các công ty ghi nhận số CGU ít hơn số bộ phận kinh doanh, có nghĩa rằng có thể có CGU nào đó liên quan đến ít nhất từ hai bộ phận kinh doanh trở lên. Việc trình bày số CGU ít hơn số bộ phận kinh doanh được cho là không tuân thủ chuẩn mực, hơn nữa dẫn đến việc chi phí giảm giá trị của LTTM có thể bị ghi thấp hơn so với thực tế và làm cho lợi nhuận bi ghi cao hơn thực tế.
Khoảng ¼ số công ty không trình bày thông tin liên quan đến CGU và bộ phận kinh doanh. Rõ ràng rằng sẽ quá khó khăn cho người sử dụng BCTC đánh giá tính đúng đắn của phương pháp giảm giá trị của tài sản, trong đó có giảm giá trị của LTTM.
Bảng 2: Bộ phận kinh doanh và tổng hợp đơn vị tạo tiền theo ngành
| Ngành | Số CGU> Số bộ phận kinh doanh | Số CGU= Số bộ phận kinh doanh | Số bộ phận kinh doanh | Không trình bày |
| | | | | |
| Hàng tiêu dùng | 3 | 3 | 11 | 7 |
| Tài chính | 2 | 3 | 7 | 3 |
| Viễn thông và dịch vụ | 6 | 6 | 7 | 4 |
| Nguyên vật liệu | - | 4 | 3 | 4 |
| Năng lượng và xây dựng | 4 | 2 | 14 | 7 |
| | | | | |
| Tổng cộng (n = 100) | 15 | 18 | 42 | 25 |
| | | | | |
Vấn đề tiếp theo là sự lựa chọn phương pháp áp dụng trong việc ước tính giá trị có thể thu hồi của từng CGU và xác định chi phí giảm giá trị của LTTM. Rõ ràng rằng trong Bảng 3, phương pháp chủ yếu được áp dụng là phương pháp giá trị sử dụng. Trong số 100 công ty thì có đến 88 công ty áp dụng phương pháp này (chiếm 88% trong tổng thể). Có 5 công ty không trình bày phương pháp áp dụng và đối với những công ty này người sử dụng BCTC không có bất cứ thông tin gì trong việc đánh giá tính sắc bén của phương pháp kiểm tra giảm giá trị của LTTM.
Số lượng ít các công ty sử dụng phương pháp giá trị hợp lý và phương pháp hỗn hợp (kết hợp cả phương pháp giá trị sử dụng và giá trị hợp lý), chiếm 7% trong tổng thể. Đối với những công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý để xác định giá trị có thể thu hồi của CGU sẽ giảm gánh nặng trong việc trình bày các giả định chủ quan và phức tạp. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp giá trị hợp lý, công ty phải trình bày cơ sở xác định hợp lý liên quan đến hồ sơ tài sản, giá cả thị trường, giá có thể so sánh mà chúng có tính thuyết phục trong việc xác định giá trị có thể thu hồi của các CGU. Trên thực tế việc trình bày quá tóm tắt và thiếu nhiều thông tin có liên quan đến phương pháp giá trị hợp lý làm cho người sử dụng BCTC không thể đánh giá được tính đúng đắn của giá trị có thể thu hồi của các CGU theo phương pháp này.
Bảng 3: Phương pháp áp dụng để xác định giá trị có thể thu hồi CGU theo ngành
| Ngành | Số lượng công ty | Giá trị hợp lý | Giá trị sử dụng | Phương pháp hỗn hợp | Không trình bày |
| | | | | | |
| Hàng tiêu dùng | 24 | 1 | 21 | 1 | 1 |
| Tài chính | 15 | 1 | 13 | 1 | - |
| Viễn thông và dịch vụ | 23 | - | 22 | 1 | - |
| Nguyên vật liệu | 11 | - | 9 | 1 | 1 |
| Năng lượng và xây dựng | 27 | - | 23 | 1 | 3 |
| | | | | | |
| Tổng cộng (n) | 100 | 2 | 88 | 5 | 5 |
| | | | | | |
Phương pháp chủ yếu liên quan đến việc xác định giá trị có thể thu hồi là phương pháp giá trị sử dụng. Theo quy định của chuẩn mực, các giả định quan trọng cần được kiểm tra như tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ tăng trưởng. Căn cứ vào các tỷ lệ này để xác định giá trị hiện tại (giá trị có thể thu hồi của các CGU) từ luồng tiền tương lai thông qua mô hình chiết khấu luồng tiền.
Ths. Trần Mạnh Dũng
Khoa Kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân
Nghiên cứu sinh tiến sĩ Đại học Macquarie, Úc
(Nguồn: kiemtoan.com.vn)
No comments:
Post a Comment