Monday, February 28, 2011

Dow Jones tăng 2,8% trong tháng 2/2011

Nhà đầu tư tuy nhiên vẫn giao dịch trong tâm lý chờ đợi những diễn biến tiếp theo và lo lắng về ảnh hưởng của giá dầu cao lên kinh tế toàn cầu.

Dow Jones tăng 2,8% trong tháng 2/2011Chốt phiên giao dịch ngày thứ Hai, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 95,89 điểm tương đương 0,79% lên 12.226,34 điểm.
Chỉ số S&P 500 tăng 7,34 điểm tương đương 0,56% lên 1.327,22 điểm.
Chỉ số Nasdaq tăng 1,22 điểm tương đương 0,04% lên 2.782,27 điểm.
Khối lượng giao dịch trên các sàn NYSE, the American Stock Exchange và Nasdaq đạt 7,45 tỷ cổ phiếu, thấp hơn nhiều so với con số 8,47 tỷ cổ phiếu trung bình của năm 2010.
Ông Peter Boockvar, chiến lược gia về thị trường chứng khoán tại Miller Tabak ở New York, cho rằng: “Thị trường rõ ràng đang trong tâm lý chờ đợi điều gì sẽ đến tiếp theo, trên cả phương diện Trung Đông và khả năng giá dầu cao duy trì và ảnh hưởng của nó đến kinh tế toàn cầu.”
Giá dầu Brent, sau khi lên mức 120USD/thùng vào tuần trước, hạ xuống 112USD/thùng. Tuy nhiên nhà đầu tư vẫn lo lắng rằng đà phục hồi của kinh tế toàn cầu sẽ có thể bị đe dọa nếu giá dầu vẫn ở mức cao như vậy.
Ông Buffett, chủ tịch tập đoàn Berkshire Hathaway, trong thư gửi cổ đông nhận định tập đoàn cần tiến hành các vụ thâu tóm quy mô lớn, dấu hiệu cho thấy cổ phiếu có thể ở mức rẻ.

Tính cả tháng 2/2011, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 2,8%, chỉ số S&P 500 tăng 3,2% còn chỉ số Nasdaq tăng 3%.
Bình luận từ quan chức của FED cho thấy họ sẵn sàng hỗ trợ kinh tế Mỹ nếu cần thiết, điều này giúp thị trường bớt lo lắng về khả năng ảnh hưởng xấu sẽ đến khi chương trình 600 tỷ USD mua trái phiếu của FED kết thúc trong năm nay.

Vàng tăng nhẹ lên 1.410 USD/ounce

Giá vàng phiên hôm qua ít biến động, sau khi tăng liên tiếp 5 tuần do giá dầu thô có dấu hiệu giảm nhẹ.

Vàng giao tháng 4 tăng nhẹ 60 cents, lên 1.409,9 USD/ounce trên sàn giao dịch Comex, Mỹ. Khối lượng giao dịch đạt 60% so với mức trung bình 30 ngày.
Vàng giao ngay hiện có giá 1.410,9 USD/ounce, tăng khoảng 0,1% so với giá ghi nhận cùng giờ cuối tuần trước.
Chứng khoán Mỹ tăng điểm mạnh đã góp phần kiềm chế giá vàng tăng mạnh trong phiên vừa qua.

Trong tháng 2, giá vàng đã tăng 5,5%, mức tăng tháng mạnh nhất kể từ tháng 8/2010 do chịu tác động từ tình hình bất ổn Trung Đông và Bắc Phi.

Sự mất ổn định ở các quốc gia này bắt nguồn từ Tunisia và Ai Cập trước khi lan rộng qua Libya, Brahrain, Yemen và các nước khác đã trở thành bạo loạn nghiêm trọng, tác động lớn đến thị trường toàn cầu.

Bạc tăng 0,6%, lên 33,51 USD/ounce. Giá bạc đã tăng đến 20% trong tháng 2 vừa qua, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 5/2009.

Bạch kim giảm 50 cents, xuống 1.802,99 USD/ounce, palladium tăng 1,1%, xuống còn 794,22 USD/ounce.

Chứng khoán Mỹ tăng 3% tháng thứ 3 liên tiếp

Nhận định lạc quan của tỷ phú Warren Buffett đã giúp chứng khoán Mỹ khởi sắc trong phiên giao dịch ngày 28/02 và khép lại tháng tăng điểm thứ ba liên tiếp bất chấp đợt giảm sâu trong tuần trước. Tuy nhiên, những bất ổn về giá dầu có thể khiến nhà đầu tư chần chừ đẩy thị trường lên cao hơn trong thời gian tới.

Một dấu hiệu cho thấy thị trường chứng khoán có thể chững lại chính là sự sụt giảm trong khối lượng giao dịch, trái ngược với khối lượng giao dịch cao trong tuần trước khi thị trường điều chỉnh mạnh. Chỉ khoảng 7.3 tỷ cổ phiếu được chuyển nhượng trên ba sàn New York, American và Nasdaq; thấp hơn mức trung bình hàng ngày năm ngoái là 8.47 tỷ cổ phiếu.

Giá dầu thô Brent suy yếu còn 112 USD/thùng sau khi nhảy vọt lên tới 120 USD/thùng trong tuần trước. Dù vậy, nhà đầu tư vẫn còn lo lắng rằng đà phục hồi kinh tế toàn cầu có nguy cơ giảm tốc nếu giá dầu tiếp tục giữ ở mức cao.

Trong lá thư gửi đến các cổ đông định kỳ hàng năm được công bố hôm 27/02, nhà đầu tư tỷ phú Warren Buffett – Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway - cho rằng ông muốn thực hiện thêm nhiều thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) lớn. Đây là dấu hiệu cho thấy giá cổ phiếu có thể vẫn còn rẻ.

Bên cạnh đó, nhận định từ các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) phát đi tín hiệu rằng FED sẵn sàng hỗ trợ nền kinh tế nếu cần thiết nhằm xoa dịu lo ngại về việc kết thúc chương trình mua 600 tỷ USD trái phiếu Chính phủ vào giữa năm nay.

Chủ tịch FED bang New York, William Dudley, cho rằng các nhà làm chính sách nên thận trọng về việc rút lại thanh khoản quá sớm; trong khi Chủ tịch FED bang St. Louis, James Bullard, cho rằng không loại trừ khả năng FED sẽ tiếp tục sử dụng các công cụ bất thường để kích thích nền kinh tế.

Số liệu kinh tế được công bố trong ngày cho thấy hoạt động kinh doanh tháng 02/2011 tại vùng Trung Tây tăng mạnh hơn so với dự báo. Bên cạnh đó, thu nhập tháng 01/2011 của người dân Mỹ tăng với tốc độ mạnh nhất kể từ tháng 05/2009.

Chỉ số Nasdaq tăng nhẹ nhất trong phiên do cổ phiếu Amazon.com rớt 2.2% xuống 173.29 USD/cp sau khi UBS hạ mức khuyến nghị đầu tư đối với cổ phiếu của nhà bán lẻ trực tuyến này do chi phí ngày càng tăng cao.

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Dow Jones tăng 95.89 điểm (0.79%) lên 12,226.34 điểm, chỉ số S&P 500 tiến 7.35 điểm (0.56%) lên 1,327.23 điểm, chỉ số Nasdaq Composite nhích 1.22 điểm (0.04%) lên 2,782.27 điểm.

Tính cả tháng, Dow Jones tăng 2.8%, S&P 500 tiến 3.2% và Nasdaq nhận 3%.

Thị trường chứng khoán châu Âu đóng cửa trong trạng thái trái chiều với chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 7.19 điểm (0.12%) xuống 5,994.01 điểm, nhưng chỉ số DAX của Đức tăng 87.15 điểm (1.21%) lên 7,272.32 điểm, và chỉ số CAC 40 của Pháp cộng 39.97 điểm (0.98%) lên 4,110.35 điểm.

Sunday, February 27, 2011

Vàng tăng nhẹ khi bất ổn tại Libya chưa chấm dứt

Vàng giao ngay có xu hướng tăng nhẹ trong những giờ giao dịch đầu ngày hôm nay. Nỗi lo về tình hình bất ổn tại Libya tiếp tục giúp vàng tỏa sáng với vai trò là hầm trú ẩn an toàn.

Vào lúc 0027 GMT, vàng giao ngay có thêm 0.3%, đạt mức $1,413.49/oz và đang tiến tới bước tăng 6.2% trong tháng này- bước tăng mạnh nhất kể từ tháng 11 năm 2009.

Vàng giao kỳ hạn tháng 4 đang được mua bán nhiều nhất và lấy thêm 0.4%, đạt con số $1,414.50/thùng.

Tuần trước, giá vàng tăng tới 1,5% và có tuần tăng thứ 5 liên tiếp.

Ông Frank McGhee, trưởng bộ phận kinh doanh tại Integrated Brokerage Services LLC ở Chicago, cho rằng: “Giá vàng có động thái điều chỉnh, thế nhưng hoạt động mua vào sẽ diễn ra bởi yếu tố bất ổn địa chính trị chưa chấm dứt.”

Trong khi tình hình bất ổn tại Trung Đông và Bắc Phi chưa chấm dứt thì căng thẳng giữa 2 miền Triều Tiên lại dấy lên một lần nữa. Bắc Triều Tiên cho biết họ có thể tấn công Hàn Quốc nếu như Seoul tiếp tục chiến dịch tranh tâm lý nhằm vào Bình Nhưỡng thông qua việc giải truyền đơn, gửi thực phẩm, thuốc men và đài cho người dân ở Triều Tiên.

Trong bối cảnh tình hình chính trị rối ren tại nhiều nơi trên thế giới, kim loại quý nổi lên như một nơi phòng thủ rất an toàn và hữu hiệu.    
    
Trên thị trường tiền tệ, đồng dollar tạm thời đã tìm thấy sự ổn định của mình và từ bỏ mức thấp so với đồng france Thụy Sĩ khi sức hấp dẫn rủi ro đã quay trở lại. Tuy nhiên, không khí giao dịch vẫn chứa đựng nhiều rủi ro bởi căng thẳng tại Libya chưa chấm dứt và có khả năng còn lan rộng sang các nước láng giềng.

Theo thông tin từ Quĩ tín thác đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust trong phiên giao dịch cuối tuần ngày 25/2, quĩ này đã không có giao dịch nào, lượng nắm giữ vàng của quĩ giữ nguyên tại mức 1,211.568 tấn.

Ông Tom Pawlicki, chuyên gia phân tích tại MF Global Holdings ở Chicago, dự báo: “Giá vàng nhiều khả năng sẽ tái lập mức kỷ lục thiết lập ngày 07/12/2010 tại vùng 1.432,50USD/ounce bởi yếu tố hỗ trợ đến từ tăng trưởng vào đầu tư vàng, yếu tố bất ổn địa chính trị và rủi ro lạm phát.”

Phân tích kỹ thuật chứng khoán phiên giao dịch đầu tuần

Có lẽ một tới hai phiên nữa thị trường sẽ có một phiên “Shake out”.

TTCK Việt Nam: Thận trọng bẫy “Shake out”
Thị trường chứng khoán Việt Nam có một phiên tăng điểm trên cả hai sàn vào phiên giao dịch cuối tuần. Khối lượng giao dịch giảm trên cả hai sàn giao dịch.
Khối ngoại hôm nay mua ròng trên cả hai sàn giao dịch. Lượng mua ròng tập trung vào các mã như CTG, SBT, ITA, ITC, FPT, KLS, PVX, AVS, VCG... và lượng bán ròng tập trung vào các mã như BVH, DVD, SSI, VIC, VSH, PSI, VND, BVS…
Tỷ giá đô la và giá vàng vẫn ổn định trong vài ngày qua. Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng trong bài trả lời báo chí cho biết: Hiện nay số dư tài khoản ngoại tệ của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại còn tới 21 tỉ USD. Như vậy, nếu các doanh nghiệp bán ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ bớt áp lực nhưng tỷ giá vẫn phụ thuộc nhiều vào diễn biến của giá vàng thế giới mà hiện tại đang ở vùng giá đỉnh của mình và vẫn đang thiết lập một xu hướng tăng giá. Do vậy, vàng vẫn là một áp lực lớn đối với tỷ giá hối đoái ở thời điểm hiện tại.
Về phía doanh nghiệp, VIC tiến hành họp đại hội cổ đông và công bố một số thông tin quan trọng như: Royal City: Tính đến hiện tại, đã bán được 3.000 căn trên tổng số 4.000 căn hộ của dự án; tuy nhiên chưa hạch toán vào doanh thu và lợi nhuận. Công ty sẽ hạch toán khi hoàn tất việc xây dựng, bàn giao cho khách hàng. Như vậy thì vào năm 2013 – khi dự án hoàn thành, thì VIC sẽ “bùng nổ” về lợi nhuận. Về việc VIC lập dự án tại khu đất của Cao su Sao Vàng (SRC): Đúng là VIC làm thủ tục để triển khai dự án tại đó nhưng khi nào có thông tin cụ thể rõ ràng thì sẽ thông báo sau.
Trên đồ thị phân tích kỹ thuật, HNX-Index xuất hiện một phân kỳ dương giữa đường giá và RSI(14). Đối với VN-Index đã nhận được sự hỗ trợ mạnh bởi trên đám mây Kumo của biểu đồ Ichimoku. VN-Index sau phiên ngày thứ 5 xuất hiện mẫu hình nến Bullish Hammer thì ngày cuối tuần tiếp nối bằng cặp mẫu hình nến Bullish Engilfing. Có lẽ một tới hai phiên nữa thị trường sẽ có một phiên “Shake out”.

"Shake out" xảy ra ở giai đoạn hình thành đáy, sau khi chạm điểm nào đó thị trường bật lên, nhiều người vẫn bị ảnh hưởng của giai đoạn xuống giá trước nên vội vàng lợi dụng cơ hội giá lên để lấy lại phần nào đã mất và thoát khỏi thị truờng. Những ai bắt được đáy hoặc gần đáy thì cũng bắt đầu hiện thực hoá lợi nhuận => thị trường đi xuống. Tuy nhiên khi "Shake out" xong thì thị trường sẽ bước vào giai đoạn tăng giá bền vững (điều này sẽ được khẳng định hơn khi thị trường vượt lên đỉnh gần đây).
Đồ thị chỉ số VN-Index
Lưu ý của CafeF: Các phân tích trên chỉ mang tính tham khảo.Không phải các khuyến nghị mua/bán.

Trung Quốc cam kết chống lạm phát

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo hôm 27.2 cam kết sẽ xử lý những mối lo ngại của người dân về lạm phát, tham nhũng, “bong bóng” bất động sản…
d
Thủ tướng Ôn Gia Bảo trả lời qua mạng Internet.
Trả lời các câu hỏi của người dân qua mạng Internet, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã đề cập hàng loạt những mối quan tâm của người dân mà chính phủ đặt ưu tiên hàng đầu trong việc xử lý từ giá cả tăng cao, lạm phát, đến tình trạng “bong bóng” bất động sản, tham nhũng... Nhiều vấn đề tương tự đã gây nên sự biến động chính trị ở các nước Trung Đông và Bắc Phi.

“Mục tiêu phát triển kinh tế của chúng ta là để đáp ứng nhu cầu vật chất và văn hóa ngày càng gia tăng của người dân, khiến cho cuộc sống của người dân trở nên ngày một tốt hơn” - Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói. Ông khẳng định bình ổn giá luôn là vấn đề ưu tiên trong phát triển kinh tế của Trung Quốc.


Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Trung Quốc trong tháng giêng vừa qua tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó giá lương thực tăng tới 10,3% do nhu cầu tăng, trong khi hạn hán kéo dài ở những khu vực trồng ngũ cốc chủ chốt. Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm kiểm soát giá cả, bao gồm các chương trình thúc đẩy tăng sản lượng ngũ cốc, hỗ trợ giảm nhẹ ảnh hưởng hạn hán.


Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho biết, chính phủ sẽ tăng cường cung cấp nhà cho người dân, đẩy mạnh dẹp bỏ tình trạng tung tin đồn đối với thị trường bất động sản, đảm bảo sản lượng ngũ cốc và các mặt hàng thiết yếu khác, trừng phạt những kẻ đầu cơ.


Phát biểu của thủ tướng được đưa ra sau khi tiếp tục có những lời kêu gọi trên mạng giục người dân Trung Quốc xuống đường biểu tình vào mỗi ngày chủ nhật ở 13 thành phố lớn trên toàn quốc, học tập theo cuộc “cách mạng hoa nhài” xuất phát từ Tunisia. Theo AFP, ngày 27.2, 300 cảnh sát đã có mặt tại các địa điểm biểu tình dự kiến ở trung tâm Bắc Kinh, nhưng không có dấu hiệu nào về việc người dân hưởng ứng những lời kêu gọi trên.

Trung Quốc hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế xuống 7% trong 5 năm tới

Trung Quốc hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế xuống 7% trong 5 năm tớiChính phủ Trung Quốc muốn tái cơ cấu nền kinh tế để không phải “trả giá đắt” cho tăng trưởng như suốt khoảng thời gian 5 năm qua.

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố chính phủ Trung Quốc muốn hãm kinh tế nước này tăng trưởng chậm lại để tái cơ cấu nền kinh tế bất chấp việc chính phủ nhóm nước phát triển muốn kinh tế tăng trưởng mạnh.
Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo công bố mục tiêu tăng trưởng GDP trong 5 năm tới sẽ khoảng 7%/năm, thấp hơn so với mục tiêu 7,5% trong khoảng 5 năm vừa qua.
Dù các quan chức kinh tế hàng đầu Trung Quốc thường đánh giá thấp mức độ tăng trưởng, động thái tuy nhiên phát đi tín hiệu rằng mục tiêu ưu tiên của chính phủ tại nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới đang chuyển hướng sang giảm phụ thuộc vào xuất khẩu và các ngành có tỷ trọng đầu tư vốn cao để tạo điều kiện thuận lợi giúp tiêu dùng nội địa tăng trưởng mạnh.
Sự đi lên không ngừng của kinh tế Trung Quốc đến từ đầu tư mạnh mẽ vào các ngành tỷ trọng vốn cao như thép và việc tự biến mình thành công xưởng của thế giới với nguồn lao động dồi dào di cư đến các thành phố ven biển từ khu vực nông thôn nghèo khó trong lục địa.
Thế nhưng tốc độ tăng trưởng ấn tượng của Trung Quốc hơn 9%/năm trong suốt 30 năm qua đã khiến nước này phải trả giá đắt: ô nhiễm nặng, bất bình đẳng và tham nhũng tăng.
Trong một buổi chat trực tuyến với người dùng Internet Trung Quốc trong ngày Chủ Nhật, ông Ôn Gia Bảo nói: “Chúng tôi không bao giờ muốn kinh tế tăng trưởng nhanh với cái giá phải trả là môi trường. Ngành công nghiệp quá thừa công suất và tiêu tốn quá nhiều tài nguyên.”
Các chuyên gia kinh tế Trung Quốc cảnh báo mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7% sẽ không được thực hiện nay thế nhưng nó mang đến tín hiệu cho thế giới và chính quyền các tỉnh rằng chính phủ thật sự nghiêm túc vầ chuyển hướng tăng trưởng sang chú trọng vào tiêu dùng nội địa.
Kế hoạch 5 năm lần gần nhất công bố vào năm 2006 đặt mục tiêu tăng trưởng 7,5% thế nhưng kinh tế tăng trưởng 11,1% từ năm 2006 đến năm 2010. Lần gần nhất Trung Quốc đặt mục tiêu tăng trưởng 7% vào năm 2001 khi kinh tế Trung Quốc phục hồi từ thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á và kinh tế tăng trưởng 7,5%.
Từ năm 2001 đến năm 2005, kinh tế Trung Quốc, theo tính toán của JP Morgan Chase tăng trưởng trung bình 9,8%.

Khủng hoảng kinh tế làm thay đổi hành vi tiêu dùng

Khủng hoảng kinh tế có lẽ đã ảnh hưởng thật sự đến hành vi tiêu dùng của người dân tại châu Âu.

Theo một khảo sát của Cetelem được thực hiện từ tháng 12-2009 và vừa được công bố, 64% người dân châu Âu nói chung và 73% người Pháp cho biết cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm họ thay đổi hành vi tiêu dùng một cách lâu dài: họ càng ngày càng tiêu dùng các sản phẩm có tính sinh thái và theo mùa nhiều hơn, đồng thời kiểm soát chặt những chi tiêu không cần thiết, để dành tiết kiệm nhiều hơn.

Thật vậy, cuộc khủng hoảng đã làm người dân châu Âu ngày càng quan tâm đến việc tiết kiệm, bởi có 34% người dân cho biết họ đã để dành nhiều hơn trong 12 tháng qua, trong khi một năm trước đó tỉ lệ tăng tiền tiết kiệm chỉ 22%.

Do khủng hoảng kinh tế nên người dân cũng có một lối sống ngày càng lành mạnh hơn khi họ giảm thiểu một cách rõ rệt việc tiêu dùng rượu, thuốc lá và khoản chi cho việc đi nhà hàng; ngược lại người dân châu Âu lại chi tiêu nhiều hơn cho việc chăm sóc sức khỏe. 37% cho biết họ thường xuyên sử dụng các sản phẩm mang tính sinh thái, tức tăng 12-13%.

Khủng hoảng kinh tế cũng làm cho người dân thích mua sắm trong các mùa khuyến mãi hơn: 47% người châu Âu cho biết đi mua sắm trong những mùa khuyến mãi thì có lợi nhiều hơn và những mặt hàng thường mua trong những mùa khuyến mãi là sách, phim ảnh, quần áo.

Riêng việc mua sắm quần áo thì kết quả khảo sát cũng cho thấy việc chi tiêu cho quần áo sụt giảm khoảng 4%.

Việc chi tiêu cho các loại hình giải trí tốn kém cũng giảm, bởi theo công bố của Liên đoàn sòng bạc của Pháp thì năm 2009 có sự sụt giảm đáng kể số khách hàng đến với loại hình giải trí này.

Tóm lại có thể nói rằng vì khủng hoảng kinh tế, người ta ngày càng kiểm soát ví của mình một cách chặt chẽ và có trách nhiệm hơn.

Thế giới tuần 21-27/2: Cú sốc dầu lửa

Làn sóng chính trị bất ổn tại Bắc Phi kéo theo những biến động trên thị trường dầu mỏ đã trở thành tiêu điểm chính của báo chí quốc tế trong suốt tuần qua. Những cụm từ như "khủng hoảng dầu lửa", "biến động thị trường dầu mỏ quốc tế", "cú sốc dầu lửa"... đã xuất hiện với tần suất dày đặc trên các báo lớn.
Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần qua (25/2), dầu Brent Biển Bắc tại sàn giao dịch London giữ vững trên mốc 112 USD/thùng, cao nhất kể từ ngày 21/8/2008, bất chấp việc Saudi Arabia nâng sản lượng thêm 700.000 thùng/ngày lên trên 9 triệu thùng/ngày, nhằm xoa dịu nỗi lo về gián đoạn nguồn cung dầu. Tính cả tuần, dầu tăng 14%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 1/2009.
Nhật báo Les Echos nhận định, chính cuộc nổi dậy và nguy cơ nội chiến tại Libya là nguyên nhân trực tiếp khiến giá dầu bốc lên rất cao. Hiện tại, các nước châu Âu phụ thuộc khá nhiều vào dầu mỏ đến từ Libya. Trong số các nước phụ thuộc nhiều nhất phải kể đến, là Italy, Iceland và Áo (với tỷ lệ hơn 20% dầu tiêu thụ đến từ Libya).
Trả lời phỏng vấn hãng tin Pháp AFP, Victor Shum, chuyên gia cao cấp tại công ty tư vấn năng lượng Purvin and Gertz nhận định, chính tâm lý lo ngại về khả năng bạo loạn sẽ lan từ Libya sang các nước sản xuất dầu lớn hơn là nhân tố đẩy "vàng đen" lên giá. Chuyên gia kinh tế Shane Oliver thuộc AMP Capital Investors cũng khẳng định, bạo động tại Bắc Phi và Trung Đông là nhân tố chủ chốt chi phối đợt lên giá lần này trên thị trường năng lượng.
Còn theo tờ Le Figaro, trong một động thái khá bất ngờ, Thủ tướng Nga Vladimir Putin, tại Brussel, đã đưa ra nhận định: Cơn bão giá dầu là một hiểm họa lớn đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới. Dù điều này tương đối khó giải thích, vì Nga là nhà sản xuất dầu mỏ đứng đầu thế giới, nhận xét của Thủ tướng Nga, theo Le Figaro là rất xác đáng.
Với mức độ tiêu thụ toàn cầu, 86 triệu thùng dầu thô/một ngày, quy theo giá 100 USD/thùng, một năm chi phí cho dầu mỏ của nền kinh tế thế giới là hơn 3000 tỷ USD, chiếm 4,7% tổng sản lượng kinh tế thế giới. Nếu giá dầu tăng đến 120 USD, tỷ lệ này sẽ vượt quá mức 5,5%, khiến cho "tăng trưởng kinh tế bị cản trở", ngân hàng Deutsche Bank phân tích.
Kể từ năm 1970 đến nay, 5 cuộc suy thoái toàn cầu (1974, 1980, 1990 2001 và 2008) đều đến tiếp sau một đợt giá dầu tăng vọt. Việc giá dầu tăng vọt tương ứng với các biến cố chính trị và quân sự lớn, như cuộc chiến tranh giữa Israel và liên quân Ai Cập – Syria năm 1973, cách mạng Iran 1979, hay chiến tranh Vùng Vịnh 1990. Tiếp theo đó, là đợt nhu cầu dầu mỏ tăng đột biến năm 2000, còn đối với năm 2008, là nhu cầu tăng đột ngột của hàng loạt quốc gia đang trỗi dậy.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, việc giá dầu đột ngột tăng vọt không phải lúc nào cũng dẫn đến suy thoái kinh tế, như thực tế đã xảy ra vào giữa những năm 2002-2006. Đó cũng là lý do khiến Trợ lý giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), John Lipsky, cho rằng, hiện tại, ít có khả năng việc giá dầu tăng vọt sẽ có tác động lớn đến những triển vọng kinh tế toàn cầu.
Trong cuộc họp của nhóm hai mươi nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20) diễn ra ở Paris hôm thứ bảy tuần trước (19/2), IMF đã đưa ra kịch bản tăng trưởng kinh tế thế giới là 4,4% năm nay, dựa trên giả thuyết giá dầu chỉ là xấp xỉ 95 USD, có nghĩa là thấp hơn rất nhiều so với giá dầu hiện nay.
Theo Les Echos, các thị trường đang lo ngại và chuẩn bị ứng phó với ba kịch bản liên quan đến việc xung đột, đang ngày càng nghiêm trọng hơn, tại khu vực Bắc Phi và Cận Đông.
Kịch bản thứ nhất, nếu cuộc khủng hoảng lan sang Algeria, thì tình hình sẽ khó kiểm soát, bởi lượng dầu mà Algeria cung cấp cho châu Âu còn lớn hơn của Libya. Les Echos lo ngại các cuộc biểu tình mới của đối lập, và việc tình trạng khấn cấp vừa được chính quyền Algeria dỡ bỏ.
Hôm 24/2, Chính phủ Algeria thông báo sắc lệnh của Tổng thống bãi bỏ đạo luật khẩn cấp. Chấm dứt luật về tình trạng khẩn cấp là một trong những đòi hỏi của các tổ chức đối lập khi thực hiện các cuộc biểu tình phản đối hàng tuần tại thủ đô của Algeria. Người biểu tình ở Algeria bày tỏ sự phản đối trước tỷ lệ thất nghiệp cao và giá thực phẩm tăng trong các cuộc biểu tình tương tự như ở Tunisia và Ai Cập đã lật đổ giới lãnh đạo.
Kịch bản thứ hai là cuộc khủng hoảng tại Libya chuyển thành nội chiến. Hiện tại, lượng dầu xuất từ Libya đã giảm xuống gần một nửa, theo đánh giá của Goldman Sachs. Nếu thay đổi chế độ, việc khai thác sẽ trở lại bình thường. Nhưng nếu nội chiến nổ ra thì tình hình rất căng thẳng. Mặc dù Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) có thể tăng lượng dầu cung cấp cho thị trường, nhưng cần phải có thời gian để các biện pháp bổ sung được áp dụng.
Hôm 26/2, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã thông qua lệnh trừng phạt Libya bao gồm lệnh cấm đi lại và phong toả tài sản đối với Tổng thống Moammar Gadhafi, các thành viên trong gia đình và phụ tá thân cận; lệnh cấm vận vũ khí và nhất trí đưa ông Gadhafi ra Toà án hình sự quốc tế với những cáo buộc chống lại loài người.
Tuy nhiên, Hội đồng Bảo an không xét đến đề nghị lập vùng cấm bay trên bầu trời Libya, cũng như không có kế hoạch can thiệp quân sự vào Libya. Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) tuyên bố không có ý định can thiệp vào Libya. Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon ca ngợi sự nhất trí cao này của 15 nước thành viên Hội đồng Bảo an và cho rằng, điều đó "gửi một thông điệp mạnh mẽ, rằng sự vi phạm các quyền cơ bản của con người sẽ không được tha thứ".
Trong khi đó, tình hình hỗn loạn vẫn gia tăng ở Libya. Liên hợp quốc cho rằng, hơn 1.000 người đã thiệt mạng. Vào ngày hôm qua, một trong những người con trai của Đại tá Gadhafi, Saif al-Islam, khẳng định cuộc sống bình thường vẫn tiếp diễn ở 2/3 đất nước Libya. Trong khi đó, phe đối lập lại cho biết họ kiểm soát 80% đất nước.
Kịch bản thứ ba, theo Les Echos, là tình hình có thể trở nên tồi tệ hơn tại Saudi Arabia, vốn chỉ cách Bahrain có 26 km. Năm 1995, những người Hồi giáo Shia đã từng tham gia vào các cuộc biểu tình tại Bahrain. Trong tuần, để ngăn ngừa các phản kháng trong nước, vua Abdallah của Saudi Arabia đã công bố một chương trình trợ giúp xã hội trị giá hàng chục tỷ USD.
Sau 3 tháng điều trị tại Mỹ, ngày 19/2, Quốc vương Abdullah, 86 tuổi, đã trở về nước. Trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm tránh các cuộc biểu tình tương tự như Tunisia, Ai Cập, Quốc vương Abdullah tuyên bố một khoản chi tiêu công mới trị giá 37 tỷ USD, tăng lương công chức thêm 15% và tăng mạnh chi tiêu cho các chương trình phúc lợi xã hội, nhà cửa và giáo dục.
Theo các sắc lệnh mới, những người thất nghiệp tại Saudi Arabia sẽ được trợ cấp tài chính trong một năm, trong khi những người bị tù vì không trả các khoản nợ sẽ được trả tự do và sinh viên được hỗ trợ thêm tiền. Các chuyên gia cho rằng sự hào phóng đột ngột này là một nỗ lực nhằm tháo gỡ sự bất mãn và làm chệch hướng những yêu cầu cải cách.
Tuy nhiên, theo nhà phân tích Peter Goodspeed viết trên tờ National Post hôm 24/2, Quốc vương Abdullah có thể tìm cách đáp ứng một số yêu cầu của các nhà hoạt động dân chủ, những điều đó dường như không đủ để tránh những rắc rối đã xảy ta tại các nước láng giềng. Hiện nay, không thể dùng tiền để mua sự im lặng và sự phục tùng.
Thực tế cuộc khủng hoảng dầu lửa tới đâu, có diễn ra một trong ba kịch bản trên hay không, hiện chưa thể biết được. Cũng có thể, tình hình sẽ lạc quan hơn. Bộ trưởng Dầu mỏ Qatar, Mohammed Saleh Al Sada, hôm cuối tuần cho biết, OPEC có thể bù đắp sự thiếu hụt sản xuất dầu thô từ Libya và thế giới sẽ không thiếu nguồn cung cấp dầu. Không có lý do để giá dầu tiếp tục tăng do Saudi Arabia và OPEC sẽ không để xảy ra tình trạng thiếu dầu.

Thursday, February 24, 2011

Vàng về sát 1.400 USD/ounce do giá dầu giảm mạnh

Sau khi lên gần mức cao nhất trong 2 tháng, giá vàng giảm đến 15 USD (hơn 1%) xuống còn 1.402 USD/ounce.
Giá vàng giao tháng 4 đã có lúc lên tới 1.415,8 USD/ounce trước khi giảm 0,5%, xuống còn 1.404,4 USD/ounce trên sàn New York.
 
Giá vàng giao ngay giảm 11 USD so với giá ghi nhận cùng giờ hôm qua, tương đương 0,8%, xuống còn 1.402,1 USD/ounce trên sàn Kitco.
 
Vàng giao ngay có lúc đã vượt qua 1.417 USD/oune trong phiên giao dịch hiện đang diễn ra.
 
Giá vàng hạ nhiệt sau khi lên gần mức cao nhất trong 2 tháng do giá dầu thô giảm khoảng 2% sau khi có thông tin Ả Rập Xê-út đang xem xét khả năng nâng sản lượng xuất khẩu dầu thô.
 
Bên cạnh đó, còn có tin đồn về việc ông Muammar Gaddafi, Tổng thống Libya đã bị bắn. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ cho rằng không có lý do gì để tin là ông Gaddafi đã chết.

Cùng ngày, cơ quan nhân quyền chính thức của Pháp cho biết có tới 2.000 người thiệt mạng trong các cuộc bạo động ở Libya, khiến mối quan ngại về bất ổn chính trị của quốc gia này càng gia tăng.
 
Các chuyên gia kinh tế nhận định giá vàng sẽ tiếp tục tăng và có thể tăng đến 1.450 USD/ounce trong ngắn hạn.

Bạc giảm 2,3%, xuống còn 32,73% do Truong quốc giảm nhập khẩu kim loại này. Thứ 3 vừa qua, giá bạc lên tới trên 34 USD/ounce, mức cao nhất trong 31 năm.

Bạch kim tăng nhẹ 50 cents, lên 1.782 USD/ounce trong khi giá palladium giảm 0,4%, xuống còn 773,22 USD/ounce.
 
Vàng giao ngay trên sàn Kitco lên tới gần 1.420 USD/ounce trước khi giảm về dát 1.402 USD/ounce.

Tuesday, February 22, 2011

Suy thoái kinh tế vẫn “vờn” Thung lũng Silicon

hung lũng Silicon nơi được xem cái nôi của nhiều công ty công nghệ, nhiều dự án đột phát. Người ta vẫn nghĩi nơi đây luôn phồn vinh dù bất kì điều gì xảy ra, nhưng thực tế, nó cũng vấp phải nỗi lo suy thoái như bất cứ nơi nào khác. Gần đây, các khoản định giá khổng lồ về những trang mới nổi như Facebook, Twitter và Zynga rất được coi trọng. Nhưng trong khi Web 2.0 đang làm rất tốt việc của mình, thì vùng Thung lũng Silicon tự bản thân nó lại không như vậy.
Một báo cáo mới cho biết: Mạng lưới Thung lũng Silicon và Tổ chức cộng đồng thung lũng Silicon cho thấy những khoản bồi thường và tình trạng thất nghiệp ở vùng này không được cải thiện từ khi nền kinh tế suy thoái. Nó không hoàn toàn do sự ngừng trệ sản xuất về công nghệ trong thời kì kinh tế khủng hoảng. Những vấn đề về lương thấp và thất nghiệp nảy sinh từ những rắc rối lan rộng ở vùng đó trong nhiều năm.
Theo báo cáo, ''Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người chấm dứt sự suy giảm kéo dài trong 2 năm, bình ổn ở mức xấp xỉ 62,400 đô-la năm 2005". Hơn thế nữa, báo cáo lưu ý rằng: "Vùng thung lũng Silicon tăng thêm 12,300 việc làm trong năm 2010, đem việc làm trở lại các mức năm 2004.'' Những điều đó hầu như không phải là những dấu hiệu của một nền kinh tế ''khỏe mạnh". Bản báo cáo bao gồm các hạt Santa Clara, San Mateo và nhiều vùng thuộc các hạt Alameda, Santa Cruz.
Báo cáo cũng ngầm ám chỉ sự thật rằng những công việc thuộc lĩnh vực công nghệ phần nào phục hồi. Các kĩ sư và các công nhân kĩ thuật khác không còn rời khỏi vùng nữa. Nhưng ở những lĩnh vực khác mà phụ thuộc vào ''sức khỏe'' của ngành công nghiệp công nghệ địa phương thì việc làm đang suy giảm, nhất là trong lĩnh vực công cộng.
Những vấn đề của vùng Thung lũng Silicon không phải là điều bất thường. Sự suy thoái kinh tế làm bào mòn cơ sở tính thuế, có nghĩa là, các dịch vụ bị cắt bỏ. Khi các khoản tiền thiếu hụt của chính quyền địa phương tiếp tục tăng, việc làm thuộc lĩnh vực công cộng tiếp tục giảm. Nếu thuế tài sản không phục hồi, quá trình đó tự nó sẽ không đảo ngược lại và không có dấu hiệu nào về việc giảm giá nhà sẽ sớm tự đảo ngược đột ngột một lúc nào đó.
Thung lũng Silicon luôn được xem là một vùng tách riêng ra khỏi các vùng còn lại, cái nôi của nhiều công ty công nghệ, nhiều dự án đột phát. Người ta vẫn nghi nơi đây luôn phồn vinh dù bất kì điều gì xảy ra nhờ điều kiện của nó khi nền móng của sự phát triển về công nghệ đã làm thay đổi nước Mỹ. Nhưng đề cập đến suy thoái kinh tế, phá sản và ảnh hưởng của sự sụp đổ của cơ sở tính thuế lên các dịch vụ công cộng thì Thung lũng Silicon chỉ giống như các vùng khác - hi vọng vào sự phục hồi nhanh chóng hơn.

Tỷ giá liên ngân hàng tăng nhẹ

Sau 1 tuần liên tục điều chỉnh giảm, tỷ giá liên ngân hàng sáng 22.2 đã tăng 5 đồng so với hôm trước, lên mức 20.678 đồng/USD, đẩy tỷ giá trần tại các ngân hàng thương mại lên 20.885 đồng/USD.

Kể từ ngày 12.2, sau khi tỷ giá liên ngân hàng lên mức cao nhất là 20.713 đồng/USD, và bắt đầu được điều chỉnh giảm từ ngày 14.2 đến nay, đây là lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng lại tỷ giá liên ngân hàng. Ngay sau đó, các ngân hàng thương mại đều niêm yết giá bán USD ở mức giá trần. Vietcombank mua vào 20.785 đồng/USD, bán ra 20.885 đồng/USD; ACB mua vào 20.780 đồng/USD, bán ra 20.885 đồng/USD; Eximbank mua vào 20.865 đồng/USD, bán ra 20.885 đồng/USD...
Trong sáng qua, tỷ giá trên thị trường tự do đã hạ nhiệt, đứng ở mức 22.000 - 22.050 đồng/USD (mua vào, bán ra).

Quỹ Tiền tệ quốc tế khuyến cáo chính sách đảm bảo kinh tế phục hồi đúng hướng

Hôm qua, Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ quốc tế Dominique Strauss-Kahn khẳng định, mặc dù Hội nghị Bộ trưởng Tài chính Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20) đã đồng thuận các biện pháp tái cân bằng nền kinh tế toàn cầu, nhưng thế giới vẫn cần các hành động chính sách mạnh mẽ hơn nữa để đảm bảo nền kinh tế chung phục hồi đúng hướng và ổn định hơn.
Ông Strauss-Kahn nhấn mạnh các hành động chính sách mạnh cần được thực hiện ở cả cấp quốc gia và quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính và phân phối thu nhập.

“Đô” chưa ổn thì giá vàng khó lường

Khi giá vàng tăng theo tỉ giá USD, nhiều người dân không bán vàng ra khiến thị trường vàng mất cân đối cung cầu.
Sau một tuần liên tục tăng, tuần này giá vàng trong nước tiếp tục nóng và được điều chỉnh liên tục ở mức khá cao. Giá vàng trong nước dường như đã thiết lập mặt bằng mới quanh vùng 38 triệu đồng/lượng. Vấn đề đặt ra, ngoài vấn đề tỉ giá và giá thế giới, còn điều gì tác động đến tâm lý và diễn biến của thị trường vàng trong nước hiện nay không?

Giá USD dẫn dắt giá vàng

Ông Nguyễn Công Tường, Phó phòng Kinh doanh Công ty SJC, cho biết phiên đầu tuần lực mua của SJC khá tốt nhưng khi giá vàng đẩy lên mức 38,15 triệu đồng/lượng thì lực mua chậm lại và lực bán mạnh lên. Vì vậy, giá vàng trong nước nhanh chóng hạ nhiệt.

Theo ông Tường, ngày 18-2, khi giá vàng đột ngột tăng mạnh lên 38,5 triệu đồng/lượng, một số nhà đầu tư gom mua từ trước tết Nguyên đán đã tranh thủ chốt lời.

Ông Tường nhận định tỉ giá thị trường tự do liên tục tăng mạnh cùng với việc tăng giá vàng thế giới đã khiến cho giá vàng trong nước tăng mạnh tuần vừa qua. Khi giá vàng bắt đầu tăng theo tỉ giá thì nhiều

Ông Nguyễn Ngọc Trọng, Giám đốc kinh doanh vàng miếng PNJ, cho biết điều khác biệt của thị trường tuần qua là kể từ sau cơn sốt vàng vào tháng 11-2010 (khách bán rất ít, chủ yếu khách đến mua, tỉ lệ 2/10) lượng khách đến mua và bán tuần qua đều tăng tương đương, thị trường khá sôi động.

Người dân tìm kênh an toàn để “trú ẩn”

Theo ông Nguyễn Công Tường, mặt bằng giá mới của nhiều mặt hàng thiết yếu tăng cũng sẽ là nguyên nhân tác động đến giá vàng trong nước.

Sau ba năm kể từ 2008, CPI đã tăng ở mức trên 40% và dự báo năm 2011 chỉ số giá tiêu dùng sẽ tiếp tục tăng mạnh. Vì vậy, việc người dân đầu tư vào vàng như một kênh an toàn để “trú ẩn” là điều tất yếu, nhất là trong bối cảnh giá cả thị trường có nhiều bất ổn như hiện nay. Tại các quốc gia có mức tăng trưởng nhanh thì đi cùng với nó là lạm phát tăng cao. Thị trường Việt Nam cũng tương tự như Trung Quốc khi người dân tìm đến kênh đầu tư vàng ngày càng nhiều.

“Hiện nay, tốc độ tăng của giá vàng luôn vượt xa rất nhiều so với các mặt hàng khác trên thị trường. Vì vậy, giá cả hàng hóa khi được thiết lập mặt bằng mới cũng không tác động nhiều đến giá vàng. Giá vàng hiện chịu tác động mạnh nhất bởi giá USD nhưng rất khó nhận định về giá vàng sắp tới khi giá USD còn quá nhiều bất ổn. Dự báo, trong một, hai ngày tới, giá vàng thế giới còn tiếp tục tăng quanh vùng 1.412 USD nên hướng tăng sẽ vẫn còn chủ đạo đối với giá vàng trong nước” - ông Tường nhận định.

Ông Nguyễn Ngọc Trọng cũng lưu ý, trước năm 2008, Việt Nam luôn nằm trong tốp 10 quốc gia nhập khẩu vàng lớn nhất thế giới (dù kinh tế xếp thứ trên 100). Từ năm 2008, chúng ta đã quy định về quota nhập khẩu nhưng với lượng vàng nhập khẩu lớn, thời gian hiện nay chúng ta vẫn không có cách nào để thống kê số lượng vàng đang nằm trong dân. Trong khi đó, các quốc gia khác có thể thống kê chính xác là vì vàng do các quỹ kinh doanh vàng hoặc ngân hàng nắm giữ và người dân chủ yếu mua vàng trang sức.

Khủng hoảng chính trị Libya đẩy chứng khoán Mỹ ngã nhào

Chứng khoán Mỹ trải qua ngày giảm điểm mạnh nhất kể từ tháng 08/2010 do nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu trước nỗi lo về cuộc khủng hoảng chính trị ngày càng leo thang tại Libya. Đây có thể là mở đầu cho một đợt điều chỉnh đã được dự báo lâu nay sau đà bứt phát ngoạn mục của thị trường trong thời gian qua.

Chỉ số Dow Jones giảm 178.46 điểm (1.44%) xuống 12,212.79 điểm, mức thấp nhất kể từ ngày 07/02. Đây là phiên giảm điểm mạnh nhất của chỉ số này kể từ ngày 16/11/2010 sau 3 tuần khởi sắc liên tiếp và chạm mức cao nhất kể từ ngày 05/06/2008.

Chỉ số S&P 500 chìm 27.57 điểm (2.05%) - mức giảm mạnh nhất kể từ ngày 11/08, xuống 1,315.44 điểm - mức thấp nhất kể từ ngày 04/02.

Chỉ số Nasdaq Composite lao dốc 77.53 điểm (2.74%) - mức giảm mạnh nhất kể từ mùa hè năm 2010, xuống  2,756.42 điểm - mức đóng cửa thấp nhất kể từ ngày 03/02.

Chỉ số đo lường trạng thái biến động Wall Street VIX nhảy vọt 26.6% lên 20.80 điểm, mức tăng mạnh nhất kể từ ngày 20/05/2010.

Bất ổn tiếp tục leo thang và khối lượng giao dịch cao càng làm gia tăng khả năng về một đợt rút lui mạnh hơn của thị trường. Với khoảng 9.68 tỷ cổ phiếu được chuyển nhượng trên ba sàn New York, American và Nasdaq; đây là khối lượng giao dịch đạt mức cao nhất trong tháng 02 và mức cao thứ hai trong năm 2011.

Thị trường châu Âu đóng cửa trong sắc đỏ với chỉ số FTSE 100 của Anh mất 18.04 điểm (0.30%) xuống 5,996.76 điểm, chỉ số DAX của Đức giảm nhẹ 3.46 điểm (0.05%) xuống 7,318.35 điểm, chỉ số CAC 40 của Pháp rớt 47.14 điểm (1.15%) xuống 4,050.27 điểm.

Monday, February 21, 2011

Trung Quốc hướng tới sứ mệnh lãnh đạo kinh tế toàn cầu

Cải cách quan trọng nhất mà Trung Quốc cần phải tiến hành là thay đổi căn bản mối quan hệ giữa Đảng - Chính phủ - khu vực công. Điều này có lẽ khó trở thành hiện thực trong tương lai gần.
Tác giả Razen Sally là Giám đốc Trung tâm Châu Âu về Kinh tế chính trị toàn cầu, và là Giáo sư tại Trường Kinh tế London (LSE).
Gần một thập niên đã trôi qua kể từ khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kể từ thời điểm đó, Trung Quốc đã hấp thụ nhiều chính sách, quy tắc và thể chế cũ kỹ, và phần lớn sự hấp thụ đó có nguồn gốc từ chính sách của Mỹ trong nhiều thập niên trước.
Trung Quốc đã hành xử như thể là một nền kinh tế có quy mô vừa và nhỏ, vốn chỉ có thể đáp ứng một cách bị động với các quy tắc thương mại quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đã trở thành một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới, bên cạnh Mỹ và Liên minh châu Âu (EU).
Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai và nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới. Quốc gia này cũng là nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong thời kỳ hậu khủng hoảng.
Bên cạnh việc gia tăng không ngừng quy mô của nền kinh tế, Trung Quốc còn muốn ảnh hưởng tới giá cả quốc tế và định hình các quy tắc toàn cầu. Nhưng để thực hiện được điều này, Trung Quốc cần có những thay đổi căn bản trong cách suy nghĩ của mình về chính sách kinh tế. Tuy nhiên, cho tới nay Bắc Kinh vẫn đang không muốn thay đổi.
Điều này đã tạo ra sự thiếu chắc chắn và không ổn định cho Trung Quốc và phần còn lại của thế giới, và khiến các nhà lãnh đạo toàn cầu tỏ ra e ngại khi kỳ vọng rằng Trung Quốc sẽ đóng vai trò tích cực đối với các vấn đề kinh tế thế giới.
Cách xử lý trong thương mại toàn cầu đã thể hiện một cách sâu sắc nhất sự định hướng chính sách của Trung Quốc, và cũng là thế lưỡng nan về chính sách của quốc gia này. Việc trở thành thành viên của WTO đã là một thành công vang dội của Trung Quốc.
Sự chấp nhận một loạt các quy tắc của WTO để có thể trở thành thành viên của tổ chức này, cùng với quá trình giải quyết những bất đồng của Trung Quốc, đã làm giảm nhẹ những căng thẳng đa chiều, và làm dịu đi quá trình hội nhập nhanh chóng của Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu. Bắc Kinh cũng đã tham gia đàm phán các hiệp định tự do thương mại song phương và khu vực, như với ASEAN.
Nhưng có thể dễ dàng nhận thấy rằng Trung Quốc đã đóng vai trò thụ động và bên lề trong các Vòng đàm phán Doha để đẩy nhanh tiến trình tự do hóa thương mại toàn cầu. Vị trí tất định của Trung Quốc đã khiến quốc gia này luôn ở trong trạng thái ứng phó thụ động, và để các siêu cường khác thiết lập luật chơi.
Và các hiệp định tự do hóa thương mại song phương của Trung Quốc tỏ ra tương đối yếu thế. Trong khi đó, ví dụ như các hiệp định thương mại tự do của Hàn Quốc với Mỹ và EU đã thể hiện quá trình tự do hóa thương mại sâu sắc giữa Hàn Quốc với các đối tác khác. Ngược lại, những đàm phán của Bắc Kinh đối với ASEAN chỉ là vấn đề giảm thuế, mà chưa động chạm đến các vấn đề căn bản hơn như dỡ bỏ các hàng rào đối với hàng hóa và dịch vụ, cũng như đầu tư và chi tiêu công.
Các hiệp định thương mại tự do khác của Trung Quốc, ví dụ như với Pakistan, thập chí còn không giúp xóa bỏ được những hàng rào thuế quan quan trọng nhất.
Trên thực tế, quá trình hội nhập mang tính lịch sử của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới đã bị sa lầy kể từ năm 2006. Trung Quốc đã không đạt được các thỏa thuận tự do hóa đáng kể nào, ngoài những cam kết với WTO. Quá trình cầm quyền của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo còn tỏ ra "cứng rắn" hơn nhiều so với hai người tiền nhiệm là Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ.
Các lợi ích từ việc trì hoãn quá trình tự do hóa - từ các Bộ, các cơ quan hành chính, và các doanh nghiệp nhà nước mới hồi sinh của Trung Quốc - đang ngày một gia tăng. Chính vì các "quyền lực không chính thức" này, nên Trung Quốc không sẵn sàng mở cửa thị trường nội địa, và rất khó khăn để đạt được những thỏa thuận đầy tính nhượng bộ với các đối tác của mình.
Quá trình tự do hóa đầy chông gai của Trung Quốc còn bị chi phối bởi sự can thiệp của chính sách công nghiệp từ trung ương, nhằm bảo vệ lợi ích của khoảng 50 doanh nghiệp quốc doanh, phần lớn thuộc các ngành sản xuất "chiến lược" và các ngành dựa trên khai thác tài nguyên như dầu mỏ và khai khoáng, đồng thời chịu sự chi phối của các ngân hàng quốc doanh vốn đang kiểm soát hệ thống tài chính của Trung Quốc.
Những đóng góp của Trung Quốc trong nỗ lực ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, bằng thặng dư tài chính và tiền tệ khổng lồ, đã biện minh cho sự ưu đãi của khu vực công và bảo hộ khu vực tư nhân. Thỉnh thoảng, Bắc Kinh lại thực hiện cơ chế "ra lệnh và kiểm soát", ví dụ như kiểm soát giá cả để chống lạm phát, khiến cho công cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường ngày càng khó khăn hơn.
Chính sách thương mại chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa bảo hộ, cùng với chính sách công nghiệp chịu ảnh hưởng của kinh tế chỉ huy, cả hai đã gặp nhau ở một số điểm. Sự hạn chế nhập khập, đặc biệt đối với các kim loại đất hiếm, đã gia tăng. Các ưu đãi về thuế, trợ cấp và kiểm soát giá, cùng với những "can thiệp" hành chính đối với các quyết định đầu tư, đã ưu tiên hàng hóa nội địa và tạo ra bất lợi đối với hàng hóa nhập khẩu tại Trung Quốc.
Các tiêu chuẩn "riêng biệt" của Trung Quốc, ví dụ như đối với điện thoại di động thế hệ thứ ba, đã làm gia tăng chi phí đối với các công ty nước ngoài trong nỗ lực cạnh tranh đối với các công ty của Trung Quốc. Các hàng rào đối với ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính và dịch vụ viễn thông, đã được dỡ bỏ một cách rất chậm chạp, thậm chí hầu như chưa được dỡ bỏ.
Những giới hạn đối với đầu tư nước ngoài đang được gia tăng trong các lĩnh vực mà các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc đang hoạt động, như trong ngành sắt thép, hóa dầu, than đá, năng lượng sinh học, thiết kế Website, quảng cáo trên các thiết bị nghe nhìn, và các dịch vụ Internet. Với sự ưu tiên các doanh nghiệp trong nước, Trung Quốc đã thể hiện rõ sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp nước ngoài trong các hợp đồng mua sắm của của chính phủ.
Những yêu cầu trong việc góp vốn liên doanh và chuyển giao công nghệ đối với các công ty nước ngoài đã tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp trong nước khi đầu tư vào các dự án đường sắt cao tốc, ô-tô điện, và các dự án năng lượng có thể tái tạo.
Cuối cùng, "chủ nghĩa quốc gia trong lĩnh vực đầu tư" đã phát triển thành chính sách "gạt bỏ doanh nghiệp nước ngoài": Các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc trong lĩnh vực khai thác tài nguyên đã mua lại các tài sản của nước ngoài với chi phí vốn rẻ được các ngân hàng nhà nước cung cấp.
Vấn đề ở đây là tổ hợp chính sách này không phù hợp với sứ mệnh của Trung Quốc là lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu trong những thập niên tới. Bắc Kinh không thể kỳ vọng rằng các đối tác thương mại của mình có thể chấp nhận một cách vô điều kiện sự tràn ngập của hàng xuất khẩu của Trung Quốc, mà không mở cửa thị trường nội địa của mình cho hàng hóa của các đối tác đó.
Trên thực tế, những lợi ích cục bộ của Trung Quốc đã ngăn cản sự cải cách chính sách công nghiệp và tạo đà cho sự tràn ngập của chủ nghĩa bảo hộ tại quốc gia này. Trung Quốc cần đẩy mạnh cải cách theo những gì mà chính phủ nước này đã cam kết với WTO. Trung Quốc cũng nên giảm việc áp đặt thuế nhập khẩu, đặc biệt là đối với hàng công nghiệp. Quốc gia này cũng nên giảm bớt sự kiểm soát xuất khẩu đối với nguyên liệu thô và hàng nông sản.
Thách thức căn bản hơn của Trung Quốc là dỡ bỏ những hàng rào quy định trong nội địa đối với các hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và mua sắm công. Sự cam kết dỡ bỏ này là chỉ số đo lường chất lượng của các cuộc cải cách nội địa nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và "tái cân bằng" giữa đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế, và giảm dần sự kiểm soát của khu vực công.
Phần lớn những mong muốn này đều không nằm trong chương trình nghị sự của Bắc Kinh. Các nhà lãnh đạo Trung quốc không sẵn sàng để thay đổi chính sách công nghiệp và đẩy mạnh cải cách theo những gì đã cam kết với WTO.
Sự cải cách này không chỉ đồng nghĩa với việc tự do hóa các thị trường sản phẩm trong nội địa, mà còn đồng nghĩa với việc giảm dần sự kiểm soát đối với các thị trường đầu vào phục vụ sản xuất như đất đai, vốn tài chính và các đầu vào năng lượng như dầu mỏ, nước và điện. Những yếu tố này là cốt lõi của sự điều hành kinh tế và chính trị nội bộ của Trung Quốc.
Những cải cách của Trung Quốc có thể không khó khăn và thách thức như người ta nghĩ. Quá trình tự do hóa trong thời kỳ đầu của Trung Quốc đã giúp quốc gia này hội nhập sâu vào các chuỗi cung toàn cầu, và Bắc Kinh không thể trì hoãn hay tụt hậu trong nỗ lực cải cách, một khi nó vẫn muốn tiếp tục gia tăng sự thịnh vượng của Trung Quốc.
Nhưng cho đến khi tìm được một con đường để thoát khỏi ngõ cụt, Trung Quốc vẫn sẽ rất hạn chế về năng lực lãnh đạo toàn cầu. Để tìm thấy con đường đó, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc - những người ngày càng tỏ ra quyết đoán trên trường quốc tế, cần phải khiêm tốn hơn, nhằm đáp ứng được kỳ vọng của các nhà lãnh đạo toàn cầu khác về vai trò lãnh đạo lớn hơn của Trung Quốc trên các diễn đàn quốc tế như IMF, WTO và Khối G-20.

EU lo ngại tình hình Lybia vượt ngoài tầm kiểm soát

Các nước châu Âu đang theo dõi chặt chẽ tình hình ở Lybia bởi những gì diễn ra ở đây tác động tiêu cực đối với châu Âu và công dân của các quốc gia này
Một trong những mối lo ngại lớn của châu Âu là nếu các chế độ ở Bắc Phi như Libya sụp đổ, một làn sóng người nhập cư bất hợp pháp sẽ dời bỏ đất nước để tới châu Âu. Hiện tượng hàng ngàn người nhập cư bất hợp pháp Tunisia tìm đến châu Âu bằng cách cập bến đảo Lampudisa của Italy mới đây là một ví dụ. Bên cạnh đó, các cuộc xung đột hiện nay ở Libya có nguy cơ đẩy đất nước này đến bờ nội chiến và tạo điều kiện cho các lực lượng Hồi giáo cực đoan lên nắm quyền ở khu vực gần với biên giới Ai Cập.
Vào thời điểm này, tuy các công dân châu Âu tại Libya chưa bị trực tiếp đe doạ, nhưng các nước châu Âu đã phải tính tới khả năng đối phó nếu bất ổn tiếp tục leo thang. Với khoảng 750 công dân sống ở Libya, Bộ Ngoại giao Pháp kêu gọi công dân của mình thận trọng và thậm chí là quay trở lại Pháp.
Trên đài truyền hình quốc gia, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Pháp Bernard Valero nói: “Trước tiên, các công dân Pháp ở Libya cần ở nhà, tránh việc đi lại không cần thiết và đặc biệt là không nên tới những khu vực diễn ra biểu tình bởi vì ở những nơi này, tình hình có thể nhanh chóng vượt ngoài kiểm soát”. 
Tại Italy, Bộ Ngoại giao nước này kêu gọi người dân không nên tới Libya do các cuộc biểu tình đang diễn ra ở nhiều thành phố. Bộ Ngoại giao Italy cũng đưa ra một số nguyên tắc ứng xử cho các công dân Italy ở Libya như: tránh những nơi tụ tập đông người, tránh xa ngay lập tức những khu vực biểu tình và luôn theo dõi thông tin về tình hình khu vực và quốc tế.
Về phần mình, chính phủ Bồ Đào Nha đã tiến xa hơn một bước khi gửi một máy bay quân sự C-130 tới Tripoli để đưa các công dân quốc gia này cũng như công dân các quốc gia châu Âu khác trở về nước./.

Vàng lên mức cao nhất trong 7 tuần do bạo lực tại Trung Đông lan rộng

Giá vàng tăng lên trên 1.400 USD/ounce, lần đầu tiên trong 7 tuần, do bạo lực tại Bắc Phi và Trung Đông lan rộng khiến cầu tài sản an toàn tăng cao.
Biến động giá vàng 24h qua. Nguồn: Kitco.
Giá vàng giao ngay tăng giá phiên thứ 6 liên tiếp, lúc 6:19 sáng nay đứng ở mức 1.407 USD/ounce, mức cao nhất trong 7 tuần. Vàng tương lai giao tháng 4 đứng ở mức 1.407 USD/ounce.

Căng thẳng từ Ai Cập và Tunisia đã lan rộng khắp khu vực Trung Đông. Giới buôn vàng cho biết, cầu vàng miếng tăng nhẹ tại khu vực Trung Đông, chủ yếu do căng thẳng tại đây.


Wang Tao, nhà phân tích thị trường của Reuters, cho biết, vàng giao ngay có thể tăng lên mức 1.423,57 USD/ounce, mức cao nhất trong 3 tháng khi giá vàng  tiếp tục "bỏ qua" các tín hiệu giảm giá và tiếp tục tăng mạnh.


Tuy vậy, lượng vàng nắm giữ của quỹ tín thác vàng lớn nhất thế giới, SPDR, giảm xuống 1.223,098 tấn vào ngày 20/2/2011, mức thấp nhất trong 9 tháng, từ mức 1.224,008 tấn vàongafy 15/2/2011.


Trong khi đó, các cuộc đụng độ tại nước xuất khẩu dầu mỏ Lybia đã đẩy giá dầu Brent lên mức cao nhất trong 2 năm rưỡi qua.


Dầu Brent London tăng 1,73 USD lên 104,25 USD/thùng. Dầu thô ngọt nhẹ giao tại Mỹ tăng 4 USD lên 90,20 USD/thùng.

Vàng giữ vững trên 1,400 USD/oz, dầu Brent vượt 108 USD/thùng

Vàng tăng mạnh 1.3%, bạc nhảy vọt 4.4%, dầu Brent tiến 3.2%, dầu tương lai “bay” 6.3%.
Bất ổn chính trị tại Trung Đông và Bắc Phi đã khiến nhà đầu tư sợ hãi và giúp giá vàng, dầu cũng như các kim loại khác đồng loạt tăng giá mạnh trong phiên giao dịch ngày 21/02. Theo đó, vàng vượt 1,400 USD/oz, bạc vượt 33 USD/oz, dầu tương lai vượt 95 USD/thùng, dầu Brent vượt 108 USD/thùng.

Tại Libya, lực lượng an ninh đã tấn công vào các đoàn người biểu tình chống Chính phủ. Theo nguồn tin từ các bệnh viện tại Bắc Phi mà Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) có được, các vụ đụng độ giữa những người biểu tình và lực lượng an ninh tại các thành phố đã khiến ít nhất 233 người thiệt mạng. Rất khó để có được thông tin về tình hình Libya vì nước này đặt ra những giới hạn hết sức nghiêm ngặt đối với truyền thông nước ngoài.

Những người biểu tình muốn chấm dứt chế độ do Tổng thống Moammar Gadhafi cầm quyền suốt 42 năm qua. Phát biểu trên truyền hình, con trai Tổng thống Moammar Gadhafi cảnh báo rằng Libya có thể rơi vào nội chiến.

Bên cạnh Libya, các đoàn người biểu tình ủng hộ dân chủ cũng tiếp tục diễn ra tại một số quốc gia khác thuộc khu vực Trung Đông và Bắc Phi như Bahrain, Yemen, và Morocco.

Giá vàng giao tháng 4 trên sàn COMEX tại New York tăng 17.40 USD/oz (1.3%) lên 1,406 USD/oz.

Giá bạc giao tháng 3 tiến 1.42 USD/oz (4.4%) lên 33.72 USD/oz.

Giá dầu cũng tăng mạnh do lo sợ rằng bất ổn chính trị tại Libya có thể khiến nguồn cung dầu bị gián đoạn.

Libya là một quốc gia sản xuất dầu lớn đồng thời là thành viên của Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Theo số liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), nước này có trữ lượng dầu lớn nhất tại châu Phi, theo sau là Nigeria và Algeria.

Thông tin trên kênh truyền hình Al Jazeera cho biết hoạt động sản xuất tại mỏ dầu Nafoora của Libya đã tạm ngừng.

Giá dầu thô Brent giao tháng 4 trên sàn giao dịch London nhảy vọt 3.22 USD/thùng (3.2%) lên 105.74 USD/thùng. Sau giờ giao dịch, giá dầu Brent tăng tiếp 2 USD/thùng lên 108 USD/thùng, mức cao nhất kể từ ngày 04/09/2008.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 4 trên sàn NYMEX tăng 5.69 USD/thùng (6.3%) lên 95.40 USD/thùng sau khi lên tới 95.47 USD/thùng vào đầu phiên.

Chứng khoán châu Á giảm điểm sau khi Trung Quốc thắt chặt tiền tệ

Chứng khoán châu Á giảm điểm ngày đầu tuần và chấm dứt chuối 3 ngày tăng điểm sau khi Trung Quốc tiếp tục áp dụng các biện pháp chống lạm phát..

Chỉ số MSCI châu Á-Thái Bình Dương giảm 0,1% xuống 139,70 điểm lúc 3:30 chiều tại Tokyo. Tỷ lệ cổ phiếu giảm so với tăng là 3:2. Cổ phiếu của các công ty sản xuất nguyên vật liệu cơ bản giảm mạnh nhất trong 10 nhóm ngành.

Tuần trước, chỉ số này tăng 3% và là mức tăng mạnh nhất trong 1 tuần kể từ ngày 3/12/2010 sau khi Tổng thống Ai Cập từ chức và các báo cáo kinh tế cho thấy kinh tế Mỹ đang phục hồi và lợi nhuận doanh nghiệp được cải thiện.

Chứng khoán Trung Quốc giảm điểm đầu phiên do lực kéo từ cổ phiếu ngành ngân hàng và bất động sản của Trung Quốc sau khi nước này nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sau 10 ngày tăng lãi suất để chống lạm phát và rủi ro bong bóng tài sản. Tuy vậy, đến cuối phiên, chỉ số Shanghai Composite đảo chiều, tăng điểm trở lại với mức tăng 1,14%. Trong khi đó, chỉ số Hang Seng của Hồng Kông giảm 0,44%.

Chứng khoán Nhật Bản tiếp tục tăng 0,14% và kéo dài chuỗi ngày tăng điểm lên 6 ngày khi một số nhà đầu tư tăng mua cổ phiếu đã giúp thị trường hồi phục sau đợt giảm hồi đầu phiên. Tuy vậy, nhiều nhà đầu tư vẫn hạn chế mua vào khi thị trường Mỹ đóng cửa nghỉ lễ và bất ổn tại Trung Đông chưa lắng dịu.

Chứng khoán Hàn Quốc giảm 0,39% do sức kéo từ cổ phiếu các công ty sản xuất thép và tài chính. Tuy vậy, cổ phiếu các công ty đóng tàu lại tăng điểm.

Chứng khoán Australia giảm 0,7% khi các nhà đầu tư bán cổ phiếu sau khi có tin Trung Quốc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và bất ổn tại Trund Đông khiến giới đầu tư hạn chế mua các tài sản rủi ro.

Tại khu vực Đông Nam Á, chứng khoán Singapore giảm 0,7%; chứng khoán Indonesia giảm 0,07%; chứng khoán Malaysia tăng 0,36%.

Sunday, February 20, 2011

Trung Quốc cho phép giao dịch quyền chọn NDT tại nội địa

Trung Quốc chính thức chấp thuận cho phép giao dịch quyền chọn đồng nhân dân tệ tại nội địa, trước tiên ở quy mô hạn chế.
Cụ thể, giao dịch quyền chọn nội địa sẽ được giới hạn ở các công ty, ngân hàng và sử dụng cho công cụ phòng vệ hơn là đầu cơ biến động tỷ giá.
Cơ quan quản lý ngoại hối Trung Quốc tuyên bố đã đủ điều kiện để đồng nhân dân tệ được thực hiện trong giao dịch quyền chọn nội địa. Việc bắt đầu vào ngày 01/04 được coi như bước đầu tiên trong phát triển thị trường nội địa.
Đây là động thái mới nhất của chính phủ Trung Quốc trong việc cung cấp thêm cho các công ty công cụ để ứng phó với việc đồng nhân dân tệ tăng giá cũng như bất ổn tỷ giá trên toàn cầu. Đồng thời,  đánh dấu bước quan trọng trong sự phát triển thị trường nhân dân tệ phái sinh. Thông qua đó, cơ chế tỷ giá sẽ hướng theo định hướng thị trường nhiều hơn và đồng nhân dân tệ trở nên linh hoạt.
Giao dịch quyền chọn đồng nhân dân tệ hiện đang được thực hiện tại các thị trường ngoài Trung Quốc, chủ yếu Hồng Kông. Tại Trung Quốc, các công ty đã được sử dụng các hợp đồng forward để phòng vệ với tỷ giá.
Theo nhận xét của các chuyên gia nước ngoài, mục đích chính của giao dịch quyền chọn là để tỷ giá đồng nhân dân tệ được quyết định bởi thị trường và đây là cải cách lớn nhất trong cơ chế tiền tệ cứng nhắc của nước Trung Quốc.

Mở cửa: Trung Đông và Trung Quốc dìm chứng khoán châu Á

Các thị trường chứng khoán châu Á đồng loạt đỏ sàn vào đầu phiên giao dịch ngày 21/02 do bất ổn chính trị tại khu vực Trung Đông và động thái thắt chặt chính sách mạnh tay của Trung Quốc làm giảm niềm tin nhà đầu tư.
Căng thẳng chính trị tại khu vực Trung Đông tiếp tục leo thang do cuộc biểu tình tại các nước trong khu vực chưa có dấu hiệu dừng lại.
Thứ Sáu tuần trước, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) nâng dự trữ bắt buộc thêm 0.5% lần thứ hai trong năm 2011 nhằm chống chọi với lạm phát. Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng đối với các ngân hàng lớn là 19.5% và có hiệu lực kể từ ngày 24/02.
Thị trường chứng khoán Nhật Bản giảm điểm do nhà đầu tư chốt lời sau khi chỉ số Nikkei 225 khép lại tuần trước với 5 phiên tăng điểm liên tiếp.
Thị trường chứng khoán Hàn Quốc cũng phủ sắc đỏ do nhà đầu tư mang tâm lý thận trọng sau động thái thắt chặt chính sách mạnh tay của Trung Quốc.
Đà suy yếu của nhóm cổ phiếu xuất khẩu khiến thị trường chứng khoán Australia mất điểm.
 
Vào lúc 9h sáng (giờ Việt Nam), chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản lùi 0.33% xuống 10,807.40 điểm, Straits Times của Singapore trừ 0.56% xuống 3,069.77 điểm, Kospi của Hàn Quốc giảm 0.92% xuống 1,994.61 điểm, All Ordinaries của Australia mất 0.95% còn 4,978.40 điểm.
Chỉ số Shanghai Composite của Trung Quốc lùi 0.21% xuống  2,893.46 điểm, Taiex của Đài Loan trừ 0.49% xuống 8,800.36 điểm, Hang Seng của Hồng Kông mất 0.39% xuống 23,502.58 điểm.
Trên thị trường tương lai Mỹ, chỉ số Dow Jones hạ 0.04%, Nasdaq lùi 0.11% và S&P 500 giảm 0.26%.

WGC: Giá vàng thế giới năm 2011 sẽ tăng từ 8-15%

Ấn Độ, nước nhập vàng lớn nhất thế giới trong tháng 1 đã nhập 100 tấn vàng, tăng 85 tấn so với cùng kì năm trước.

Lượng vàng nhập của Ấn Độ trong năm nay có thể vượt 918 tấn – mức nhập trong năm 2010, do nhu cầu tăng cao cùng với xu thế tăng trưởng của nền kinh tế, trích dẫn lời của giám đốc hiệp hội vàng thế giới (WGC) khu vực Ấn Độ và Trung Đông, ngài Ajay Mitra.

Ông nhận định đà tăng trưởng trong nhu cầu của năm 2010 sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2011. Xu hướng nhập khẩu vàng của nước này trong tháng 1 vừa qua là minh chứng. Trong tháng 1/2011, Ấn Độ đã nhập 100 tấn vàng, tăng 85 tấn so với cùng kì năm trước.

Nhu cầu trong năm 2010 của Ấn Độ đạt 963,1 tấn, mức cao nhất từ trước đến nay, tăng 66% so với mức 578,5 tấn trong năm 2009.
 
Theo WGC, giá vàng có xu hướng tăng trong vài năm gần đây và sẽ vẫn tăng trong năm nay do nhu cầu cao và sự chậm chạp trong việc phân phối nguồn cung. Ông Mitra cũng đưa ra mức dự báo giá vàng thế giới có thể lên  1.500-1.600 USD/ounce, giá tại Ấn Độ sẽ lên 24.000-25.000 rupee/10 gam vào cuối năm 2011. Như vậy, giá vàng thế giới vào cuối năm nay sẽ tăng từ 8-15% so với giá hiện tại.

WGC cho biết, chính phủ Ấn Độ đang xem xét tăng thuế nhập khẩu vàng lên 400 USD rupee/10 gram từ mức 300 rupee hiện nay.

Năm ngoái, chính phủ Ấn Độ thu được trên 2.836,6 triệu rupee từ thuế nhập khẩu vàng.

Chủ tịch ECB: Tăng lương lúc này là sai lầm

Khi một số quốc gia châu Âu kêu gọi tăng lương sau thời kì suy thoái, chủ tịch ECB cho rằng, điều này sẽ làm gia tăng lạm phát cho khu vực.

Hôm qua, 20/2, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu Jean-Claude Trichet đã cảnh báo rằng, tăng lương trong khu vực đồng Euro là áp lực gia tăng lạm phát nóng lên trong khu vực này.

Ông nói rằng, tăng lương lúc này là một hành động sai lầm, trước áp lực tăng lương ở các nước như Đức, sau khi nền kinh tế đang hồi phục từ cuộc khủng hoảng.

Ông Trichet cho biết: “Chúng ta không thể làm gì trước sự gia tăng của giá nhiên liệu và hàng hóa, nhưng chúng ta phải làm mọi thứ để tránh cái mà chúng ta gọi là hiệu ứng vòng hai. Giá cả đang ở mức cao hơn mức độ được coi là ổn định của thị trường. Chúng ta phải nghĩ đến các phạm vi khác của giá, bao gồm cả tiền lương”.

Lạm phát khu vực đồng Euro đang ở mức 2,4%, cao hơn mục tiêu 2% của ECB. Trong khi đó thủ tướng Đức Angela Merkel và bộ trưởng Kinh tế Đức Rainer Bruederle đã kêu gọi tăng lương cho người lao động vào năm 2011 sau một thời gian suy thoái.

Chính phủ Tây Ban Nha, muốn thuyết phục các thị trường về triển vọng phát triển dài hạn của nó, đang tìm cách để việc tăng lương không ảnh hưởng đến lạm phát, điều mà Đức cũng đang muốn thực hiện trên toàn khu vực Châu Âu như một phần của hiệp ước cạnh tranh mới.

Giá vàng trong nước tăng cao do cộng hưởng ba nguyên nhân

Thứ nhất, do giá vàng thế giới tăng. Giá vàng thế giới tăng do tình hình chính trị ở Trung Đông bất ổn. Các nhà đầu tư trên thế giới có xu hướng cắt giảm đầu tư vào khu vực này.

Trong khi những thứ khác không chắc chắn, họ đem vốn định đầu tư vào đó mua vàng. Vàng là kênh giữ trạng thái tiền tệ. Nhất là các tổ chức đầu tư theo danh mục, họ phải làm phép tính cân đối giữa cổ phiếu, trái phiếu, vàng… Thứ nữa, giá tăng là do người dân ở các nước tăng cường mua vàng như một giải pháp ứng phó với làn sóng lạm phát toàn cầu, đặc biệt là người dân Trung Quốc. Nhu cầu vàng của người dân Trung Quốc tăng nhanh hơn dự đoán của chuyên gia kinh tế, do CPI nước này đang tăng cao. Khi giá vàng vượt ngưỡng kháng cự 1.373 USD/ounce, có nhu cầu thật hỗ trợ, giới đầu cơ nhảy vào, đẩy giá tiếp.

Thứ hai, nếu VND không bị phá giá tới hơn 9%, chênh lệch tỷ giá VND/USD giữa thị trường chính thức và thị trường chợ đen không quá lớn như hiện nay, thì dù giá vàng thế giới có tăng, giá trong nước cũng không bị khuếch đại đến mức như vậy. Biến động giá vàng trong nước tương quan với biến động tỷ giá trên thị trường chợ đen.

Thứ ba, là do tâm lý người dân. Trong khi giá cả thế giới và trong nước đều tăng, VND mất giá là điều chắc chắn trước mắt (nhiều người còn dự đoán sẽ còn mất giá tiếp), người dân phải tìm đến vàng và USD như một giải pháp bảo toàn tài sản, trong đó đối với USD, thường chỉ dân thành thị hướng tới. Dễ thấy là trong cơn sốt giá hiện nay, bóng dáng tham gia thị trường chủ yếu là người dân với nhu cầu nhỏ lẻ. Thực ra là giới đầu cơ, với ưu thế về thông tin và khả năng phân tích, đã gom vàng, USD từ trước, khi kỳ vọng về chuyện phá giá VND chưa thành hiện thực. Giờ là lúc họ tuỳ tình hình mà “xả” ra dần để thu lợi.

Giới điều hành chính sách nói rằng diễn biến thị trường hiện nay là do tâm lý của người dân nhưng ai, điều gì tạo ra tâm lý này? Quyết định điều chỉnh tỷ giá ra từ 11.2, đáng lẽ phải đi kèm với các giải pháp đồng bộ khác của Chính phủ mới phát huy tác dụng, giảm thiểu hệ quả và quan trọng là củng cố niềm tin. Những gì mà một số thành viên Chính phủ phát biểu trên báo chí, ví dụ sẽ cắt giảm đầu tư công, có thể giải quyết tạm thời phần nào tình hình lạm phát, còn căn cơ hơn thì phải thực hiện tái cơ cấu theo hướng, ví dụ như cải cách triệt để doanh nghiệp nhà nước.

Cần sớm có một nghị quyết về kế hoạch hành động của Chính phủ đối với tình hình bất ổn hiện nay, nhằm tạo được niềm tin, thì giới đầu cơ sẽ xả hàng ra nhanh hơn, giá sẽ xuống nhanh hơn. Điều này còn tuỳ thuộc giá thế giới nhưng ít nhất, yếu tố tâm lý được loại trừ hoặc giảm thiểu.

Mỹ lên kế hoạch bị Triều Tiên tấn công hạt nhân

Hiệp hội Giáo sư liên bang Mỹ (FAS) ngày 18/2 dẫn kế hoạch được phác thảo bởi Bộ Tư lệnh chiến lược Mỹ (Stracom) cho biết chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã chuẩn bị trước tình huống bị Triều Tiên sử dụng vũ khí nguyên tử tấn công.

 

Kế hoạch, vốn có tên gọi Oplan 8010-08, đang thu hút sự chú ý của dư luận Hàn Quốc trong bối cảnh người dân nước này lo ngại về thông tin Triều Tiên sắp thử hạt nhân. Theo kế hoạch, các căn cứ quân sự của Mỹ ở đảo Guam và Nhật Bản cũng như các quốc gia đồng mình sẽ bị tên lửa Taepodong-2 mang đầu đạn hạt nhân của Triều Tiên tấn công.
Trước tình huống này, Mỹ sẽ huy động một cuộc chiến tranh “phủ đầu”. Theo kế hoạch Oplan 8010-08, những loại tên lửa đạn đạo cùng bom JDAM sẽ được đem ra sử dụng ngay sau khi Mỹ hoặc các quốc gia đồng minh bị tấn công. Tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, máy bay ném bom hiện đại B-2 Spirit, B-52 Stratofortress và “Chim ăn thịt” F-22 sẽ thực hiện các vụ tấn công “phủ đầu” này.

 

Giáo sư Hans Kristensen của FAS dẫn lời một quan chức cấp cao của Stracom cho biết khoảng 30% các mục tiêu ở Triều Tiên sẽ trở thành “tro bụi” sau đợt tấn công đầu tiên của quân đội nước này. Ngoài ra, kế hoạch Oplan 8010-08 cũng cho biết mối quan tâm lớn nhất của Mỹ không phải là những đột phá trong lĩnh vực tên lửa đạn đạo hay nguyên tử mà chính là “vương triều” của nhà lãnh đạo Kim Jong-Il hiện nay và có thể là Kim Jong-un sắp tới.

Trong thời gian tới, Mỹ và Hàn Quốc sẽ tiến hành một loạt các cuộc đàm phán trong tháng tới để bàn về tình hình an ninh trên bán đảo Triều Tiên cũng như “chiếc ô” hạt nhân mà Washington giành cho Seoul. Nhiều khả năng Mỹ sẽ thử thuyết phục Hàn Quốc tham gia hệ thống phòng thủ tên lửa sau khi tình báo nước này phát hiện thấy Triều Tiên đã hoàn thành bãi phóng tên lửa thứ hai ở nước này.

Trung Quốc trở thành thị trường đầu tư vàng lớn thứ hai toàn cầu.

Một báo cáo mới đây của Ủy ban Vàng Thế giới cho biết, trong năm 2010, nhu cầu vàng ở Trung Quốc đã tăng vọt tới 70% so với năm 2009, đưa quốc gia này trở thành thị trường đầu tư vàng lớn thứ hai toàn cầu, sau Ấn Độ.
Cụ thể, nhu cầu đầu tư vào vàng ở Trung Quốc năm ngoái lên tới 179,9 tấn, trong khi nhu cầu từ khu vực trang sức đạt con số kỷ lục 400 tấn. Đây là những con số đáng chú ý trong một năm mà nhu cầu vàng thế giới cũng lập mốc cao nhất trong vòng 10 năm, lên đến 3.812,2 tấn (tăng 9%).

Theo Eily Ong, phụ trách nghiên cứu đầu tư của Ủy ban Vàng Thế giới và là tác giả báo cáo trên, năm 2011 có thể cũng sẽ chứng kiến nhu cầu vàng tăng mạnh. Khu vực châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, sẽ tiếp tục “cơn khát” với mặt hàng mang tính đầu tư chiến lược này.

Nhu cầu vàng ở Trung Quốc được kích thích bởi mức tăng thu nhập, tỷ lệ tiết kiệm cao và tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Trong năm 2010, hai nước trên đã chiếm tới 51% nhu cầu vàng trang sức, vàng thỏi của thế giới.

Ely Ong cho rằng động lực chính cho đầu tư vàng tăng mạnh ở Trung Quốc là những lo ngại về lạm phát, tình trạng yếu kém của các loại hình đầu tư khác cũng như tâm lý chờ đợi giá vàng sẽ còn lên cao.

Kenix Lai, một nhà phân tích về vàng tại Hong Kong, dự báo Trung Quốc sẽ đóng góp đáng kể vào nhu cầu vàng của thế giới trong năm nay. Sức mua của người Trung Quốc đang tăng và họ sẽ hướng về vàng, trang sức nhiều hơn.

Sự lựa chọn này cũng phù hợp với truyền thống của người Trung Quốc. Theo Kenix Lai, với thị trường chứng khoán ảm đạm còn thị trường bất động sản đang chịu nhiều biện pháp kiềm chế của chính phủ để tránh tình trạng “quá nóng,” các nhà đầu tư Trung Quốc đang coi vàng là một lựa chọn an toàn để tránh lạm phát.

Bên cạnh đó, việc Trung Quốc muốn tăng tỷ lệ vàng trong dự trữ tài sản quốc gia cũng là tin tốt cho thị trường. Hiện tỷ lệ vàng trong dự trữ ngoại tệ 2.800 tỷ USD của quốc gia này chỉ là 1,8%, một con số rất khiêm tốn nếu so với mức 60-70% của Mỹ, Đức và Nhật Bản.

Năm 2010, dự trữ vàng của Trung Quốc là 1.054 tấn và con số này đang từng bước được tăng dần. Giới chuyên gia cho rằng các nhà hoạch định kinh tế ở Bắc Kinh sẽ không vội vã tăng cầu dẫn đến việc đẩy giá vàng tăng quá nhanh.

Giữa tuần này, giá vàng quốc tế đạt mức cao nhất trong một tháng khi lên đến 1.382 USD/ounce. Theo Kenix Lai, giá vàng có thể đạt mức kỷ lục 1.500 USD/ounce trong năm nay./.

Tăng trưởng GDP 2011: nên tiến hay lùi?

Trong bối cảnh lạm phát trên thế giới có xu hướng tăng cao, Việt Nam cần cân đối trong phân bổ đầu tư giữa hạ tầng, phúc lợi công cộng và hiệu quả kinh tế từ đó có tốc độ tăng GDP hợp lý. Mức độ tăng trưởng thế nào là phù hợp với bối cảnh hiện nay cũng như năng lực sản xuất của Việt Nam?

Bắt buộc phải giảm lãi suất trái phiếu

Hiện nay vấn đề phát triển (tăng trưởng GDP) của Việt Nam đang phải cân nhắc giữa đầu tư cho phát triển và tiêu dùng xã hội.

Trong chính sách phát triển thông qua kích cầu hiện nay của Việt Nam, chủ yếu tăng trưởng sẽ đạt được nhờ các dự án đầu tư được cấp vốn thông qua trái phiếu chính phủ.

Năm 2010 số vốn đầu tư qua trái phiếu chính phủ đã lên đến 400.000 tỷ VND; với bình quân lãi suất trái phiếu VND lên đến 10% thì hàng năm, NHNN sẽ phải phát hành thêm 40.000 tỷ VND để trả lãi. Như vậy, trong năm 2010 mức tăng tín dụng do đầu tư lên đến 440.000 tỷ VND. Với tổng mức tăng trưởng tín dụng là 30% tương đương 600.000 tỷ VND (tổng tín dụng hệ thống là 2.000.000 tỷ VND), phần đầu tư của trái phiếu chính phủ đã chiếm rất lớn trong tổng tăng trưởng tín dụng hệ thống.

Do đó, muốn có thêm tiền để chi tiêu các ngân hàng bắt buộc phải tăng lãi suất VND lớn hơn lãi suất trái phiếu để hút tiền về. Chính vì lý do cạnh tranh lẫn nhau này đã dẫn đến lãi suất trái phiếu lên đến 10% như hiện nay.

Muốn giảm lãi suất ngân hàng, bắt buộc phải giảm lãi suất trái phiếu bằng cách giảm đầu tư dùng nguồn vốn trái phiếu chính phủ. Tốt nhất là lãi suất trái phiếu nên vào khoảng 5%, từ đó tính ra nhu cầu phát hành trái phiếu chính phủ cho phù hợp.

Nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cứ tiếp tục phát hành các phương tiện thanh toán như được cho phép tăng đến 25% mà không giảm tương ứng số tiền lãi trái phiếu chính phủ đã thanh toán (là lượng VND đã phát hành thêm) thì sẽ gây lạm phát VND. Tương tự như khi các nguồn vốn lớn khoảng 3 tỷ USD (khoảng 48.000 tỷ VND) từ nước ngoài đổ vào TTCK năm 2007, NHNN đã phải bán ra lượng VND tương ứng cũng đã gây ra lạm phát do tăng cung thanh toán lớn hơn tăng GDP, gây ra CPI tăng cao trong năm 2008.

Tuy nhiên lạm phát VND sẽ gây ra mức tăng CPI khác nhau tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể trong nước và thế giới.

Khó kiềm chế CPI do lạm phát

Muốn giảm lạm phát phải giảm tổng cung VND. Theo công ước Basel3, vào tháng 10/2010, NHNN đã yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng dự trữ bắt buộc VND từ 8% lên 9%, tương đương giảm 20.000 tỷ VND trong tổng cung thanh toán.

Nếu tiếp tục tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng thương mại bằng trái phiếu có nghĩa là khối tư nhân giảm chi tiêu, để dành số tiền này cho chi tiêu đầu tư công thông qua việc NHNN sẽ tái cấp vốn này (dự trữ bắt buộc của NHTM) cho các dự án đầu tư khác hay trả lãi vay qua trái phiếu; ngân hàng thương mại sẽ nhận được lãi suất trái phiếu dự trữ bắt buộc.

Áp lực lạm phát cũng giảm khi chỉ cho phép tăng trưởng tín dụng 20% (bình quân giai đoạn 2001-2006) thay vì 30% (bình quân giai đoạn 2007-2010) như hiện nay, có nghĩa là phải giảm mức tăng chi tiêu dùng xuống 10% tương đương khoảng 200.000 tỷ VND - số tiền (hàng hoá) này dùng cho các khoản đầu tư qua trái phiếu chính phủ hàng năm.

Theo kế hoạch tín dụng năm 2011 của NHNN, thì mức tăng tín dụng sẽ được cho phép là 23% (có xu hướng giảm tăng tín dụng hệ thống xuống còn 20%), tăng phương tiện thanh toán là 21-24% cũng làm giảm áp lực tăng lãi suất và lạm phát trong năm tới.

Với tính toán tổng thể, có thể nhận định trong thời gian tới đây tổng đầu tư qua trái phiếu chính phủ không nên vượt quá 200.000 tỷ VND/năm. Tuy nhiên trong kế hoạch đầu tư dùng nguồn vốn trái phiếu chính phủ năm 2011, lại thấy tổng đầu tư dùng vốn trái phiếu lên đến 600.000 tỷ VND, điều đó gây áp lực lớn lên hệ thống kinh tế.

Giá cả vật tư nguyên liệu thế giới tăng 30-40% do lạm phát USD (Mỹ đã bơm 2300 tỷ USD tiền mặt vào thị trường gây ra lạm phát làm giá cả thế giới tăng cao) và do tổng dự trữ ngoại tệ khá thấp chỉ đảm bảo cho thanh toán nhập khẩu 8-10 tuần (khoảng 16 tỷ USD) gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai. Lượng dự trữ USD thấp nên khi giá thế giới tăng dẫn đến thiếu USD để thanh toán ngoại hối, làm tăng giá USD so với VND trong khi USD cũng đang bị mất giá trên thế giới.

Khi lượng tiền VND bị hút về để mua USD sẽ làm thiếu tiền VND trong hệ thống ngân hàng, do đó các ngân hàng thương mại lại phải tăng lãi suất để hút VND về nhằm đảm bảo thanh khoản và chi tiêu. Vì vậy, tăng lãi suất VND lại có thêm nguyên nhân do thiếu USD phục vụ cho thanh toán ngoại hối. Khi các NHTM cùng tăng lãi suất để hút nguồn vốn VND và USD về mình sẽ dẫn đến cuộc chiến lãi suất giữa các ngân hàng như hiện nay.

Với lãi suất cho vay VND lên đến 18%/năm, thì chỉ có những dự án siêu lợi nhuận hay thật cấp bách mới dám sử dụng, do đó sẽ làm giảm sản xuất dẫn đến giảm lượng hàng cung cấp, làm giảm tổng cung.

Nguyên nhân tăng CPI (chỉ số giá cả chung, hàm ý bao gồm hàng hoá và nguyên liệu) là do chênh lệch cung - cầu tăng mạnh, do gia tăng đầu tư (làm tăng cầu) và lãi suất tăng cao (làm giảm cung). Lạm phát VND làm giá nguyên vật liệu trong nước tăng và lạm phát USD làm giá nguyên vật liệu nhập khẩu tăng. Như vậy lạm phát VND sẽ gây tác động kép lên CPI do giá đầu vào và giá bán ra đều tăng.

CPI tăng do chênh lệch cung - cầu (vi mô) có thể kiểm soát một phần thông qua các chương trình bình ổn giá (như đã thực hiện tại TP.HCM và Hà Nội), tuy nhiên CPI tăng do lạm phát (vĩ mô) thì sẽ không kiềm chế được lâu.

Năm 2011 chỉ nên tăng GDP 5-6%?

Nhu cầu USD sẽ do đầu tư của khối nhà nước và chi tiêu tư nhân quyết định. Để tăng dự trữ USD và giảm nhu cầu USD nhằm cân bằng thanh toán ngoại hối (tổng thu chi USD quốc gia phải cân bằng), nhằm ổn định tỷ giá USD/VND bắt buộc cả hai khối phải giảm chi tiêu USD thông qua hai cách:

1. Tăng tỷ giá USD/VND để giảm chi tiêu của khối tư nhân do mua hàng trong nước rẻ hơn nhập khẩu và giá cả nhập khẩu tăng cao làm giảm nhu cầu tiêu dùng hàng nhập ngoại.

Với giá cả nhập khẩu cứ tăng cao như hiện nay, về lâu dài nếu sử dụng hàng trong nước sẽ làm giảm đáng kể nhu cầu USD.

2. Giảm đầu tư của khối nhà nước vì có đến 40% tổng vốn đầu tư cho các dự án này là dùng USD để nhập hàng hoá về. Nếu cứ tiếp tục mức đầu tư cao như hiện nay, sẽ không có đủ ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu, gây áp lực lớn lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối.

Giảm đầu tư dùng trái phiếu chính phủ cũng làm giảm số lãi phải trả do đó cho phép giảm lãi suất huy động vốn cho hệ thống ngân hàng.

Trong tương lai gần, khi Việt Nam phải thanh toán nợ USD gốc cho các dự án ODA, FDI thì nhu cầu USD (để trả nợ) lại tăng thêm, khi đó bắt buộc phải giảm chi dùng USD để trả số nợ này để giữ mức tín dụng hiện có. Vì nếu bị hạ định mức tín nhiệm tín dụng, Việt Nam sẽ phải trả lãi cao hơn cho các nguồn vốn vay ngoại tệ, hay thậm chí không phát hành được trái phiếu USD như một số tập đoàn đã gặp phải.

Để phát triển trong ổn định vĩ mô và giảm một cách căn bản nguồn gốc tăng lãi suất, lạm phát và CPI, cần triển khai các biện pháp sau:

- Nếu muốn có tốc độ tăng trưởng GDP cao và với nguồn vốn đầu tư hạn chế thì cần tập trung đầu tư cho các dự án có hệ số hiệu quả tăng trưởng (ICOR) cao trong các lĩnh vực như công nghiệp và xuất khẩu như: dệt may, giày da, chế biến, dầu khí, nông nghiệp, dịch vụ, các DN có hiệu quả kinh doanh tốt (kể cả DNNN và tư nhân).

- Nếu vẫn giữ tốc độ tăng trưởng GDP lên đến 7,5% và đầu tư vào các khu vực có ICOR thấp như hạ tầng (giao thông, xây dựng, bất động sản), chi tiêu công (y tế, giáo dục, chính phủ), dự án không hiệu quả thì sẽ phải dùng nhiều vốn đầu tư, dẫn đến lạm phát khi nguồn vốn không đủ.

- Phương án nằm giữa hai phương án trên là đầu tư vào các dự án cần thiết và sắp đưa vào sử dụng để sớm đem lại hiệu quả đầu tư. Dừng đầu tư vào các dự án chưa cấp bách và bất động sản, dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực đem lại hiệu quả ICOR cao, các lĩnh vực xuất khẩu mang về ngoại tệ. Đầu tư hợp lý cho các khối dịch vụ và phúc lợi công cộng (y tế, giáo dục, chính phủ).

Hiện nay Việt Nam đang nhập siêu nên nền kinh tế bị áp lực kép, gây ra lạm phát cao do áp lực gia tăng đầu tư trong nước và giá cả thế giới tăng cao, khiến CPI cũng tăng theo, làm mất ổn định kinh tế vĩ mô.

Với mức nhập siêu 18% kim ngạch XNK, khi giá cả nhập khẩu thấp (kinh tế thế giới suy thoái) sự phát triển do nhập khẩu với nguồn vốn rẻ sẽ đem lại hiệu quả cao. Nhưng khi tình hình kinh tế thế giới phục hồi làm giá cả vật tư tăng lên thì sẽ gây lạm phát và tăng CPI làm mất ổn định nền kinh tế.

Thực tế ở Việt Nam (lạm phát và tăng CPI, áp lực mất giá nội tệ) cũng khá giống các nước ASEAN (Thái Lan, Indonesia, Malaysia) vào năm 1998 do sự phát triển nóng và đầu tư quá nhiều vào hạ tầng, làm mất cân bằng ngoại hối với USD. Năm 2010, các nước ASEAN đã tránh khỏi khó khăn này (lạm phát khá thấp) do sự phát triển hợp lý không còn phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài và nguồn vốn USD.

Tương tự Việt Nam, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt bài toán tốc độ tăng trưởng, lạm phát và CPI. Tuy nhiên, các số liệu tăng trưởng GDP và CPI của Trung Quốc có thể không tin cậy do nguyên nhân chính trị. CPI đầu năm 2011 bị điều chỉnh giảm là do nước này làm giảm trị số của nhóm hàng có giá tăng cao nhiều như thực phẩm, hàng tiêu dùng (viện lý do năm nay chỉ số CPI được điều chỉnh các trọng số trong chu kỳ 05 năm). Do đó, NDT sẽ bị giảm giá trị thực tế so với USD, trong khi tỷ giá danh nghĩa vẫn là 6,3 NDT=1 USD.

Nếu Việt Nam tiếp tục chạy theo mở rộng đầu tư hạ tầng để có tăng trưởng GDP cao có nghĩa là phải giảm chi tiêu dùng (trong hiện tại) để dành đầu tư phát triển (cho tương lai) thì phải chấp nhận lạm phát cao, gây mất ổn định vĩ mô.

Trong bối cảnh lạm phát trên thế giới có xu hướng tăng cao như hiện nay (do Mỹ muốn tiếp tục bơm các gói đầu tư QE), Việt Nam cần giảm chi tiêu đầu tư không hiệu quả, chưa thật cần thiết để tập trung nguồn vốn cho các dự án đem lại hiệu quả cao; chấp nhận mức tăng trưởng GDP hợp lý khoảng 5-6% phù hợp với cơ cấu hiện tại nền kinh tế và khả năng đầu tư của đất nước.

Nói cách khác, Việt Nam cần cân đối trong phân bổ đầu tư giữa hạ tầng (đầu tư cho tương lai), phúc lợi công cộng (gồm y tế, giáo dục, chính phủ) và hiệu quả kinh tế cao (khối doanh nghiệp) từ đó có tốc độ tăng GDP hợp lý (khoảng 5% là phù hợp).

Nếu vẫn muốn có tốc độ tăng GDP cao hơn sẽ phải chấp nhận lạm phát làm tăng mạnh CPI (nghĩa là phải giảm tiêu dùng để tăng đầu tư). Chỉ khi Việt Nam tái cấu trúc được nền kinh tế (gồm DNNN và DN tư nhân có hiệu quả cao, TTCK lành mạnh, năng suất lao động cao, cải cách hành chính, phúc lợi công cộng hợp lý) để có mức hiệu quả đầu tư cao (hệ số ICOR thấp) thì lúc đó chúng ta sẽ có tốc độ tăng GDP cao và lạm phát thấp.

Nguyễn Anh Tiến - tư vấn chiến lược và CNTT cho khối Chính phủ và DNNN, các tập đoàn, tổng công ty (public sector) và là chuyên gia về chính phủ điện tử (e-Government).

Popular Posts