Wednesday, March 31, 2010

VN xếp thứ 16 về chỉ số cơ hội thị trường mới nổi

Theo thông báo ngày 31/3 của Công ty kiểm toán và tư vấn quốc tế Grant Thornton, Việt Nam đứng thứ 16 trong chỉ số cơ hội về thị trường mới nổi năm 2010.

Ảnh chỉ mang tính minh họa.
(Nguồn: Huy Hùng/TTXVN).
Những nước mới nổi là những nơi đầu tư tiềm năng với quy mô rộng lớn, tốc độ phát triển nhanh cùng với nền kinh tế tăng trưởng cao.

Việt Nam đã mở cửa cho các nước tham gia vào nền kinh tế trong những năm vừa qua và ngày càng tăng nhiều hơn sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 mặc dù nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng hơn 1/5 tổng sản phẩm quốc dân.

Theo nhận định của Grant Thornton, trong khoảng từ năm 1990 đến năm 2000, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trung bình là 1,3 tỷ USD/năm, tới năm 2009, vốn FDI đã tăng lên 10 tỷ USD trong khi đăng ký cam kết FDI là 20 tỷ USD.

Báo cáo kinh doanh 2010 của Grant Thornton cho biết những quốc gia đứng đầu trong chỉ số cơ hội về thị trường mới nổi là Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mexico và Brazil.

Trong 14 quốc gia đang dẫn đầu về các nước có nền kinh tế mới nổi thì có tới 57% các doanh nghiệp tư nhân tin vào sự lạc quan về viễn cảnh kinh tế nước họ trong những năm tới đây.

Các quốc gia có nền kinh tế mới nổi đã chiếm bốn trong số năm nước trên thế giới có sự lạc quan cao nhất, gồm Chile (85%), Việt Nam (72%), Ấn Độ (71%) và Brazil (71%.)

Ông Ken Atkinson, Giám đốc điều hành của Grant Thornton Việt Nam cho biết từ sau khủng hoảng kinh tế, những nền kinh tế mới nổi đã cho thấy rõ được tầm quan trọng của họ đối với nền kinh tế toàn cầu.

Bên cạnh việc ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng, các nước này còn cho thấy một sự phục hồi khá ấn tượng với tốc độ tăng trưởng dự kiến trong hai năm tiếp theo sẽ gấp đôi so với nước đi trước.

Tuy nhiên, theo số liệu khảo sát, để mở rộng quy mô thì những doanh nghiệp hoạt động tại những nền kinh tế mới nổi phải đứng trước nỗi lo về hệ thống quản lý tài chính yếu kém cùng với việc khan hiếm nguồn nhân lực trình độ cao.

Cuộc khảo sát của Grant Thornton được thực hiện với hơn 7.400 giám đốc điều hành, quản lý, chủ tịch và các nhà điều hành cao cấp ở những công ty lớn và vừa thuộc 36 nền kinh tế.
Nguồn: Hà Huy Hiệp (Vietnam+)

Bộ Giao thông ủng hộ lập liên doanh hàng không giá rẻ

Bộ Giao thông Vận tải khẳng định không có căn cứ pháp luật để từ chối việc bán cổ phần Vietjet Air. Luật Hàng không cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua tối đa 30% cổ phần của hãng hàng không trong nước.

Tuyên bố của Bộ Giao thông Vận tải đưa ra sau gần một tháng Vietnam Airlines có văn bản phản đối việc Hãng hàng không tư nhân Vietjet Air bán 30% cổ phần cho hãng giá rẻ AirAsia. Cơ quan này cho rằng pháp luật và chính sách hiện hành của Việt Nam không cho phép cơ quan quản lý nhà nước hạn chế nước ngoài đầu tư theo đúng Luật.

Bộ Giao thông Vận tải khẳng định không có lý do để không thông quan việc Vietjet Air bán 30% cổ phần cho Hãng hàng không AirAsia. Ảnh: Hoàng Hà.

Trong văn bản số 1754 gửi Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải nêu rõ việc bà Nguyễn Thị Phương Thảo (cổ đông phổ thông và nắm giữ 30% cổ phần phổ thông tương đương 30% vốn điều lệ của Vietjet Air) chuyển nhượng cổ phần cho AA International Ltd. (AirAsia) không tạo nên pháp nhân mới.

Theo đúng quy định, Vietjet Air phải thực hiện các thủ tục cần thiết để thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không. Trên cơ sở đó, Bộ Giao thông Vận tải sửa đổi giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không cho Vietjet Air. Cụ thể, thay tên bà Nguyễn Thị Phương Thảo thành AA International Ltd., các nội dung khác như tên giao dịch, tên hãng, vốn điều lệ... được giữ nguyên.

Về việc kiểm soát hoạt động kinh doanh vận chuyển của các hãng, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Hàng không, Nghị định 76 của Chính phủ cho phép nhà đầu tư nước ngoài không phân biệt là hãng hàng không hay doanh nghiệp đầu tư vốn vào hãng hàng không Việt Nam với các điều kiện kèm theo. Trong đó, đảm bảo quyền kiểm soát hữu hiệu hãng và không cho phép hãng hàng không nước ngoài thông qua đầu tư vốn để khai thác quyền vận chuyển nội địa VN dưới thương hiệu của mình. Cơ quan nhà nước điều tiết thương quyền nội địa trên các đường bay dựa trên nhu cầu thị trường, khả năng của các hãng hàng không, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.

Từ các phân tích của mình, Bộ Giao thông Vận tải khẳng định không có căn cứ pháp luật để không thông qua thương vụ bán cổ phần của Vietjet Air cho AA International.

Như vậy, nếu thương vụ mua bán của Vietjet Air và AirAsia thực hiện thành công, đây sẽ là bước ngoặt lớn cho thị trường hàng không Việt Nam. Vietjet Air là hãng hàng không thứ 2 tại Vietnam được cấp giấy phép và chuẩn bị bay chuyến thương mại đầu tiên, dự kiến vào tháng 5.

Trong kế hoạch kinh doanh của mình, Vietjet Air cho biết đã huy động đủ vốn điều lệ là 600 tỷ đồng, tiền đặt cọc thuê mua tàu bay ở nước ngoài là 8 triệu USD. Các chi phí từ ngày thành lập công ty tính đến hết tháng 1/2010 đã lên tới 82 tỷ đồng và đã nộp vào ngân sách trên 10 tỷ đồng.

Hồi đầu tháng 3 vừa qua, Hãng hàng không Quốc gia VN (Vietnam Airlines) có văn bản đề nghị Chính phủ không thông qua việc đầu tư của Air AirAsia vào Vietjet Air dưới mọi hình thức. Kiến nghị của Vietnam Airlines đưa ra chỉ sau 2 tuần Vietjet Air tuyên bố bán khoảng 30% cổ phần cho hãng giá rẻ của Malaysia AirAsia.

Vietnam Airlines lo ngại một khi AirAsia tham gia với 30% cổ phần trong Vietjet Airlines, thị trường sẽ xáo trộn. Với tiềm lực của mình, AirAsia đã có kế hoạch hợp tác với hãng giá rẻ của Australia - Jetstar thành lập liên minh các hãng hàng không chi phí thấp trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và có chiến lược mở rộng mạng lưới trong khu vực. Như vậy, việc AirAsia đầu tư vào Vietjet Air thực sự là mối lo với thị trường Việt Nam.

Nguồn: Hồng Anh - VnExpress

Đức áp dụng luật thuế mới đối với ngân hàng

Tại cuộc họp ngày 31/3, Chính phủ Đức nhất trí sẽ áp dụng một loại thuế mới đối với các ngân hàng. Chính phủ sẽ soạn thảo dự luật về thuế này vào giữa năm nay để trình Quốc hội thông qua.

Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)
Một khi có hiệu lực, luật thuế mới buộc các thể chế tài chính ở Đức phải nộp khoản tiền tổng cộng 1,2 tỷ euro (1,6 tỷ USD) mỗi năm.

Mức độ đóng góp tùy thuộc qui mô hoạt động và tầm quan trọng của mỗi thể chế đối với khu vực ngân hàng của Đức.

Mục đích của luật thuế mới là thiết lập cơ chế để huy động nguồn quỹ cứu trợ các ngân hàng gặp khó khăn khi xảy ra khủng hoảng, như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009.

Chính phủ cũng đã nhất trí không đưa vào dự luật đề xuất buộc các ngân hàng phải nộp lại một phần tiền cho những gói cứu trợ đã nhận được trước đây.

Nhiều nước cũng đang xem xét các biện pháp tương tự như Đức. Mỹ đã công bố kế hoạch đánh thuế "bảo lãnh" đối với những tài sản có nguy cơ rủi ro cao thuộc các thể chế tài chính lớn của nước này.

Pháp có kế hoạch đánh thuế "bảo lãnh" đối với các ngân hàng phải nộp nguồn thu cho chính phủ. Các bộ trưởng tài chính Liên minh châu Âu (EU) sẽ thảo luận vấn đề này tại cuộc họp vào trung tuần tháng tới ở Tây Ban Nha. Ủy ban châu Âu (EC) muốn tìm kiếm một giải pháp phối hợp trên toàn cầu cho vấn đề này.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) sẽ đưa ra các đề xuất của riêng tổ chức này tại cuộc họp vào cuối tháng 4/2010 như một nỗ lực nhằm đi đến giải pháp toàn cầu cho vấn đề thuế "bảo lãnh" ngân hàng.
Nguồn: Theo TTXVN/Vietnam+

Không công bố thông tin, cổ đông lớn bán sạch cổ phiếu

Ngày 31/3, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội thông báo việc bà Nguyễn Thị Kim Phượng đã bán toàn bộ 8,5% số cổ phiếu VTV đang sở hữu cho dù trước đó bà Phượng không hề công bố thông tin chào bán nào.

Theo thông tin được đăng tải hôm 31/3 tại website của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), ngày 24/3, bà Nguyễn Thị Kim Phượng, cổ đông lớn của CTCP Vật tư Vận tải Xi Măng (mã chứng khoán VTV, niêm yết tại HNX) đã bán 557.800 cổ phiếu VTV đang sở hữu. Sau giao dịch này, bà Phượng không còn sở hữu cổ phiếu VTV nào.

557.800 cổ phiếu mà bà Phượng sở hữu trước ngày 24/3 tương đương với 8,5% cổ phần của Công ty Vật tư Vận tải Xi măng. Theo quy định tại Thông tư 09/2010/TT-BTC hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (có hiệu lực kể từ ngày 1/3), bà Phượng được coi là cổ đông lớn và phải công bố thông tin ít nhất 3 ngày trước khi tiến hành giao dịch.

Nhà đầu tư có thể phải chịu thiệt hại lớn nếu thông tin  không được công bố đúng quy định. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Nhà đầu tư có thể phải chịu thiệt hại lớn nếu thông tin không được công bố đúng quy định. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Tuy nhiên, theo đại diện phòng Thông tin thị trường, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, cơ quan này không nhận được bất cứ thông báo đăng ký giao dịch nào từ phía bà Phượng và động thái giao dịch của bà đã vi phạm quy chế công bố thông tin. HNX cho biết đã báo cáo lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về trường hợp này để Ủy ban xem xét, giải quyết.

Trước khi bán ra cổ phiếu không lâu, ngày 3/2/2010, bà Nguyễn Thị Kim Phượng đã chào mua công khai 1,3 triệu cổ phiếu VTV. Thời gian hoàn tất việc chào mua là 60 ngày và lệnh mua sẽ bị hủy trong trường hợp giá cổ phiếu VTV tăng cao quá 30% giá chào mua (40.000 đồng). Sau sự kiện này, giá cổ phiếu VTV tăng mạnh và có đến 5 phiên tăng trần liên tiếp (Công ty Vật tư Vận tải Xi măng đã phải có văn bản giải trình với HNX về việc này). Đến ngày 19/3, giá cổ phiếu VTV đã lên tới 66.000 đồng (vượt quá 30% giá chào mua của bà Phượng).

Một chi tiết đáng chú ý khác của vụ việc là cùng thời điểm với giao dịch bán 8,5% cổ phiếu của bà Phượng, Công ty cổ phần Đá Đồng Giao, một cổ đông lớn khác của VTV cũng đăng ký bán toàn bộ 754.000 cổ phiếu đang sở hữu (tương đương với 11,6% vốn điều lệ của VTV). Lượng giao dịch cổ phiếu VTV trong ngày 24/3 trên HNX, do đó tăng vọt lên tới 1,257 triệu đơn vị.

Cũng từ thời điểm này, giá cổ phiếu VTV giảm nhanh, còn 44.600 đồng vào ngày 31/3. Theo một nhà đầu tư tại Hà Nội, có tham gia giao dịch cổ phiếu VTV, biến động của cổ phiếu này trong những ngày qua đã khiến anh thiệt hại cả trăm triệu đồng: “Giao dịch của các cổ đông lớn như vậy là bất thường, ảnh hưởng đến cả công ty và các cổ đông khác, nhất là trong điều kiện thị trường đang dựa rất nhiều vào niềm tin của nhà đầu tư như hiện nay”.


(Theo Vnexpress)


Các bạn nghĩ sao??? Mời các bạn cho ý kiến về vụ này, cực kỳ hot...

Các loại hàng hóa dịch vụ nào xuất khẩu nhưng không được áp dụng mức thuế suất thuế Giá trị gia tăng 0%?

** Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 nghị định số 123:
Các trường hợp hàng hoá dịch vụ xuất khẩu nhưng không được áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% gồm: tái bảo hiểm ra nước ngoài; chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài, chuyển nhượng vốn, cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài; dịch vụ tài chính phát sinh; dịch vụ bưu chính viễn thông; sản phẩm xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến quy định tại khoản 12 Điều 3 Nghị định 123; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho cá nhân không đăng ký kinh doanh trong khu phi thuế quan.
*** Theo quy định điểm 1.3 Khoản 1 Mục II Thông tư số 129:
Các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% gồm:
- Tái bảo hiểm ra nước ngoài; chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; chuyển nhượng vốn, cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài; dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông chiều đi ra nước ngoài; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho cá nhân không đăng ký kinh doanh trong khu phi thuế quan, trừ các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
- Xăng, dầu bán cho xe ôtô của cơ sở kinh doanh trong khu phi thuế quan mua tại nội địa;
- Xe ôtô bán cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan.
- Các dịch vụ do cơ sở kinh doanh nội địa cung cấp cho tổ chức, cá nhân ở trong khu phi thuế quan nhưng địa điểm cung cấp và tiêu dùng dịch vụ ở ngoài khu phi thuế quan như: cho thuê nhà, hội trường, văn phòng, khách sạn, kho bãi; dịch vụ vận chuyển, đưa đón người lao động.

Theo VTCA

Thuế lũy tiến từng phần khác gì với thuế toàn phần và cánh tính toán như thế nào?

Thuế suất toàn phần tính toán đơn giản hơn : lấy tổng thu nhập tính thuế nhân ( x) với một thuế suất thống nhất; như thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn : ví dụ : thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn là 30 triệu đồng nộp thuế theo thuế suất 20% ; tiền thuế phải nộp là 6 triệu đồng. Nhưng cũng với thu nhập tính thuế từ tiền cho thuê nhà là 30 triệu đồng , bậc thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ trên 18 triệu đến 32 triệu là 20 %, nhưng thuế suất của các bậc trước thấp hơn nên kết quả khác nhau ; cụ thể cách tính như sau:

-Thu nhập tính thuế bậc 1 : đến 5 triệu đồng thuế suất 5%, thuế phải nộp là :
5 triệu x 5 % = 0, 250 triệu đ
-Thu nhập tính thuế bậc 2 : trên 5 triệu đến 10 triệu đồng thuế suất 10%, như vậy trong bâc thuế này phải trừ đi 5 tr đã nộp ở bậc 1; nên thuế phải nộp là :
(10 tr - 5 tr ) x 10 % = 0, 500 triệu đ
-Thu nhập tính thuế bậc 3 : trên 10 triệu đến 18 triệu đồng thuế suất 15%, như vậy trong bâc thuế này phải trừ đi 10 tr đã nộp ở bậc 1 và bậc 2, nên thuế phải nộp là :
(18 tr - 10 tr ) x 15 % = 1,2 triệu đ
-Thu nhập tính thuế bậc 4 : trên 18 triệu đến 32 triệu đồng thuế suất 20%, như vậy trong bâc thuế này phải trừ đi 18 tr đã nộp ở bậc 1 bậc 2 và bậc 3 , nên thuế phải nộp của phần thu nhập trên 18 tr đến 30 tr là :
(30 tr - 18 tr ) x 20 % = 2,4 triệu đ

Tổng cộng thuế thu nhập phải nộp của thu nhập tính thuế mức 30 tr đ của cả 4 bậc thuế lũy tiến từng phần là :
0,250 tr + 0,5 tr + 1,2 tr + 2,4 tr = 4.350 tr


Như vậy, có sự khác biệt cơ bản của thuế suất toàn phần và lũy tiến từng phần : thuế suật toàn phần lấy thu nhập tính thuế nhân ( x) thuế suất còn biểu lũy tiến từng phần thì tổng số thuế được tính theo từng bậc thu nhập và thuế suất tương ứng theo biểu luỹ tiến từng phần, trong đó số thuế tính theo từng bậc thu nhập được xác định bằng thu nhập tính thuế của bậc thu nhập nhân (x) với thuế suất tương ứng của bậc thu nhập đó.

Theo VTCA

Sổ tay kiểm toán nội bộ Ngân hàng

www.taichinh247.com upload tài liệu "Sổ tay kiểm toán nội bộ Ngân hàng" để chia sẻ cùng bạn đọc mới bước chân vào nghề Kiểm toán nội bộ, nhất là KTNB tại các Ngân hàng. Mong rằng sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu download miễn phí của các bạn làm Kiểm toán nội bộ.
Chúc các bạn thành công!

Click vào đường link này để download: http://www.mediafire.com/?wgyjmjnxynm

Chứng chỉ kiểm toán viên

Chứng chỉ kiểm toán viên

Mục đích Nhằm quản lý các hoạt động liên quan đến dịch vụ kiểm toán
Thể loại Giấy chứng nhận
Ngành nào cần 692 Hoạt động liên quan đến kế toán, kiểm toán và tư vấn về thuế
Nơi nộp hồ sơ
Lệ phí và Thời hạn

Lệ phí: Lệ phí thi tính cho từng môn thi do Hội đồng thi thông báo cho từng kỳ thi

Thời hạn: Không quy định thời hạn

Các hồ sơ cần khi đăng ký

Điều kiện để dự thi lấy chứng chỉ kiểm toán viên:

  • Người dự thi lấy "Chứng chỉ kiểm toán viên" phải có đủ các điều kiện sau đây:
    1. Có lý lịch rõ ràng, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trung thực, liêm khiết, không thuộc các đối tượng không được hành nghề kếtoán, hành nghề kiểm toán theo quy định của pháp luật;
    2. Có bằng cử nhân kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng hoặc Kế toán- Kiểm toán và thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán đủ 5 năm trở lên hoặc thời gian thực tế làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán đủ 4 năm trở lên;
    3. Có chứng chỉ tin học trình độ B trở lên;
    4. Có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ C trở lên của 01 trong 05 thứ tiếng thông dụng: Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức;
    5. Nộp đầy đủ, đúng mẫu hồ sơ và lệ phí thi theo quy định tại Điều 3 của Quy chế này.
  • Những người đã có Chứng chỉ hành nghề kế toán, muốn dự thi chuyển tiếp lấy "Chứng chỉ kiểm toán viên" phải có các điều kiện sau đây:
    1. Phải có các điều kiện quy định tại điểm a, d, đ khoản 1 Điều này;
    2. Phải sau đủ 2 năm có Chứng chỉ hành nghề kế toán.
  • Đối với người nước ngoài, muốn dự các kỳ thi phải có đủ các điều kiện quy định cho từng kỳ thi tại khoản 1, 2, 3 Điều này, còn phải có điều kiện được phép cư trú tại Việt Nam từ 1 năm trở lên.

Hồ sơ đăng ký dự thi:

  • Người đăng ký dự thi lần đầu để lấy Chứng chỉ kiểm toán, hồ sơ đăng ký dự thi gồm:
    1. Phiếu đăng ký dự thi;
    2. Sơ yếu lý lịch có xác nhận của tổ chức quản lý lao động hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương nơi cư trú;
    3. Các bản sao văn bằng chứng đã đề cập ở trên có xác nhân của tổ chức cấp hoặc cơ quan công
    4. 3 ảnh màu cỡ 4 x 6 chụp trong thời gian không quá 6 tháng, hai phong bì có dán tem và ghi rõ họ, tên, địa chỉ người nhận thông báo thi, lịch thi, kết quả thi;
    5. Đối với người nước ngoài phải có bản sao Hộ chiếu do nước sở tại cấp có xác nhận của tổ chức quản lý lao động.
  • Người đăng ký dự thi lại các môn đã thi chưa đạt yêu cầu hoặc thi tiếp các môn chưa thi hoặc thi để đạt tổng số điểm quy định tại khoản 3 Điều 7 của Quy chế này, hồ sơ gồm:
    1. Phiếu đăng ký dự thi;
    2. Bản sao Giấy chứng nhận điểm thi do Hội đồng thi thông báo
    3. 3 ảnh màu cỡ 4 x 6 chụp trong thời gian không quá 6 tháng, hai phong bì có dán tem và ghi rõ họ, tên, địa chỉ người nhận thông báo thi, lịch thi, kết quả thi;
  • Người có Chứng chỉ hành nghề kế toán đăng ký dự thi chuyển tiếp lấy Chứng chỉ kiểm toán viên, hồ sơ gồm:
    1. Phiếu đăng ký dự thi;
    2. Sơ yếu lý lịch có xác nhận của tổ chức quản lý lao động hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương nơi cư trú;
    3. Bản sao Chứng chỉ hành nghề kế toán có xác nhận của cơ quan công chứng;
    4. Bản sao Chứng chỉ ngoại ngữ trình độ C trở lên có xác nhận của tổ chức cấp hoặc cơ quan công chứng;
    5. 3 ảnh màu cỡ 4 x 6 chụp trong thời gian không quá 6 tháng, hai phong bì có dán tem và ghi rõ họ, tên, địa chỉ người nhận thông báo thi, lịch thi, kết quả thi;
  • Người có Chứng chỉ chuyên gia kế toán hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên của các tổ chức nước ngoài được Bộ Tài chính Việt Nam thừa nhận, muốn được cấp “Chứng chỉ kiểm toán viên” của Việt Nam, hồ sơ gồm:
    1. Phiếu đăng ký dự thi;
    2. Bản sảo và bản dịch ra tiếng Việt có công chứng: Chứng chỉ chuyên gia kế toán hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên nước ngoài;
    3. 03 ảnh màu cỡ 4 x 6 chụp trong thời gian không quá 6 tháng, 02 phong bì có dán tem và ghi rõ họ, tên, địa chỉ người nhận thông báo, lịch thi và kết quả thi;
    4. Bản sao Hộ chiếu do nước sở tại cấp có xác nhận của tổ chức
Trình tự thủ tục
  1. Người có đủ các điều kiện dự thi tuyển kiểm toán viên gửi hồ sơ đăng ký dự thi đến Hội đồng thi do Bộ Tài chính thành lập ít nhất là 30 ngày trước ngày thi
  2. Trong thời hạn chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ thi tuyển, Hội đồng thi phải công bố kết quả thi và thông báo cho người dự thi
  3. Người dự thi đạt yêu cầu của kỳ thi được Chủ tịch Hội đồng thi cấp “Giấy chứng nhận trúng tuyển kiểm toán viên”
  4. Những người được cấp Giấy chứng nhận trúng tuyển kiểm toán viên sẽ được Chủ tịch Hội đồng thi trình Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp Chứng chỉ kiểm toán viên
Thời hạn trả lời hồ sơ 45 ngày
Cơ quan thanh, kiểm tra

Thanh tra Bộ Tài chính, Thanh tra Sở Tài chính ở các tỉnh thành

Hình thức xử phạt vi phạm Các mức phạt quy định tại Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập và Quyết định số 59/2004/QĐ-BTC ngày 09/07/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy chế thi tuyển và cấp chứng chỉ kiểm toán viên và chứng chỉ hành nghề kế toán
Các văn bản luật liên quan
Thông tin bổ sung
  • Người có Chứng chỉ kiểm toán viên được phép cung cấp các hoạt động về kiểm toán, kế toán và các dịch vụ khác như sau:
    1. Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế;
    2. Kiểm toán hoạt động;
    3. Kiểm toán tuân thủ;
    4. Kiểm toán nội bộ;
    5. Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành (kể cả báo cáo tài chính hàng năm);
    6. Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án;
    7. Kiểm toán thông tin tài chính;
    8. Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏa thuận trước.
    9. Tư vấn tài chính;
    10. Tư vấn thuế;
    11. Tư vấn nguồn nhân lực;
    12. Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin;
    13. Tư vấn quản lý;
    14. Dịch vụ kế toán;
    15. Dịch vụ định giá tài sản;
    16. Dịch vụ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức tài chính, kế toán, kiểm toán;
    17. Các dịch vụ liên quan khác về tài chính, kế toán, thuế theo quy định của pháp luật;
    18. Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính.
  • Người đăng ký dự thi lấy Chứng chỉ kiểm toán viên phải thi đủ 8 môn sau:
    1. Pháp luật về kinh tế;
    2. Tài chính;
    3. Tiền tệ, tín dụng;
    4. Kế toán;
    5. Kiểm toán;
    6. Phân tích hoạt động tài chính;
    7. Tin học (trình độ B);
    8. Ngoại ngữ (trình độ C).
  • Người có Chứng chỉ hành nghề kế toán dự thi chuyển tiếp lấy Chứng chỉ kiểm toán viên phải thi tiếp 03 môn còn lại của số môn thi lấy Chứng chỉ kiểm toán viên, gồm:
    1. Kiểm toán;
    2. Phân tích hoạt động tài chính
    3. Ngoại ngữ (trình độ C).
  • Môn thi đạt yêu cầu: Là những môn thi đạt từ điểm 5 trở lên chấm theo thang điểm 10
  • Thí sinh dự thi lấy Chứng chỉ kiểm toán viên đạt yêu cầu cả 8 môn thi và đạt tổng số điểm từ 50 điểm trở lên là đạt yêu cầu kỳ thi, được Hội đồng thi công nhận trúng tuyển. Trường hợp được miễn thi môn ngoại ngữ thì phải đạt yêu cầu cả 7 môn thi và đạt tổng số điểm từ 44 điểm trở lên;
  • Thí sinh có Chứng chỉ hành nghề kế toán thi chuyển tiếp lấy Chứng chỉ kiểm toán viên đạt yêu cầu cả 3 môn thi và đạt tổng số điểm từ 20 điểm trở lên là đạt yêu cầu kỳ thi chuyển tiếp, được Hội đồng thi công nhận trúng tuyển.
  • Miễn thi môn ngoại ngữ cho các đối tượng:
    1. Có bằng cử nhân ngoại ngữ tiếng Nga, Pháp, Trung hoặc Đức hoặc tốt nghiệp đại học ở nước Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức.
    2. Nam từ 50 tuổi, nữ từ 45 tuổi trở lên, có chứng chỉ trình độ C hoặc bằng cử nhân ngoại ngữ của 01 trong 05 thứ tiếng thông dụng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Quy chế này.

Phần thông tin chi tiết về giấy phép chỉ đưa ra các hướng dẫn cơ bản. Bạn phải nghiên cứu văn bản quy phạm kèm theo hướng dẫn này và bạn trao đổi ý kiến với cơ quan có thẩm quyền quyết định bạn thực sự cần nộp để có được giấy phép và kiểm tra xem có thêm những quy định mới liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của bạn. Chúng tôi không chịu trách nhiệm bất cứ trình tự lỗi hay sự loại bỏ.. Hãy xem phần Điều khoản và Điều kiện

Theo business.gov.vn

Đề nghị dừng cung cấp thông tin về khủng hoảng, suy thoái

Ngân hàng HSBC có nhiều báo cáo, phân tích đề cập đến tình hình kinh tế Việt Nam - Ảnh: Reuters.

Ngân hàng Nhà nước vừa có văn bản gửi các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước vừa có văn bản gửi các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, trong đó đề nghị dừng cung cấp thông tin liên quan đến khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Cách đây hai năm, vào ngày 24/9/2008, Ngân hàng Nhà nước đã có công văn số 8666/NHNN-CSTT đề nghị các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cung cấp các thông tin về diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới, với mục đích để chủ động đối phó với tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới Việt Nam.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, sau khi có công văn này, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam đã tích cực phối hợp cung cấp thông tin phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tác động của khủng hoảng tới hoạt động tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong nước.

Tuy nhiên, thời gian gần đây kinh tế thế giới đang hồi phục và dần ổn định. Vì vậy, tại văn bản số 2330/NHNN-CSTT, được ban hành ngày 30/3/2010, Ngân hàng Nhà nước đề nghị các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dừng cung cấp thông tin theo công văn số 8666/NHNN-CSTT nêu trên.

Mặc dù vậy, trong trường hợp thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và thế giới có những diễn biến thất thường, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phối hợp cung cấp kịp thời các thông tin này cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phục vụ việc phân tích, đánh giá thị trường và điều hành chính sách tiền tệ.


(Theo Vneconomy)

Một số điều cần lưu ý trong thanh toán trực tuyến

Khi thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam đã có những bước phát triển, ngoài hàng loạt sàn giao dịch TMĐT như chodientu.vn, eBay.vn, Daugia247, 5giay…, để tránh rủi ro, khách hàng cần tra cứu kỹ thông tin trước khi giao dịch

Người mua hàng phân vân trong khi giao dịch. Ảnh Minh Đức

Trước đây, phần lớn webiste của các doanh nghiệp đơn thuần chỉ là giới thiệu hoạt động, sản phẩm, dịch vụ khách hàng của công ty.

Gần đây, khi hạ tầng, công nghệ, pháp lý và các dịch vụ hỗ trợ tốt hơn cho TMĐT thì một số doanh nghiệp xây dựng mô hình bán hàng trực tuyến chuyên nghiệp hơn. Tuy nhiên, việc thay đổi thói quen tiêu dùng của người Việt Nam là một trong những khó khăn lớn nhất trong việc phát triển TMĐT.

Và một trong những lo ngại của người mua đó chính là vấn đề thanh toán trực tuyến do sự phức tạp và thiếu an toàn.

Rào cản lớn nhất của TMĐT chính là thanh toán trực tuyến, nhưng đến nay, rào cản này đã được tháo gỡ khi các cổng thanh toán trực tuyến ra đời như: Cổng thanh toán trực tuyến Ngân lượng, Payoo… cùng với nó là các ngân hàng đã cho phép sử dụng hệ thống giao dịch tại các website.

Khi mua hàng online và sử dụng dịch vụ thanh toán trực tuyến, người mua hoàn toàn không mất thời gian đi lại, nhưng vẫn mua được hàng theo ý muốn, đúng thời gian

Ông Nguyễn Hòa Bình – TGĐ công ty CP Phát triển giải pháp phần mềm Hòa Bình – đại diện cổng TTTT nganluong.vn chia nói, “Hiện nay đã có nhiều cổng TTTT ra đời để phục vụ cho nhu cầu giao dịch mua bán trực tuyến an toàn và nhanh chóng. Tại nganluong.vn, người mua sẽ được an toàn hơn với các hình thức thanh toán tạm giữ, người bán đảm bảo và chính sách hoàn tiền cho người mua khi có sự cố xảy ra”

Mua hàng trực tuyến là một xu thế mới ở Việt Nam hiện nay, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn những tồn tại hạn chế như lừa đảo, bán hàng kém chất lượng… Để bảo vệ mình trong quá trình giao dịch, người mua cần phải nghiên cứu, tìm hiểu thông tin rõ ràng và chỉ giao dịch trên những kênh mua bán uy tín.

Trước khi nhập các thông tin thẻ thanh toán, bạn nên tham khảo chính sách bảo mật thông tin và hướng dẫn thanh toán của nhà cung cấp trên website. Cuối cùng, bạn nhớ là chỉ thực hiện thanh toán tại các website có gắn nhãn xác thực có sử dụng giao thức SSL. Tức là website yêu cầu điền thông tin thẻ phải có link bắt đầu bằng https://.


(Theo Tienphong.vn)

Pete Cashmore - ông chủ của blog nổi tiếng thế giới

Pete Cashmore, chưa đầy 25 tuổi, CEO và người sáng lập Mashable.com, một trong Top 10 blog Technorati nổi tiếng thế giới. Anh sáng lập Mashable tại một thành phố nhỏ Scotland vào năm 2005, lúc mới 19 tuổi.

Pete Cashmore

Năm 2009, là năm được mùa của Cashmore với một loạt các danh hiệu do các tạp chí bình chọn. Đó là một trong Top 30 người dưới 30 tuổi xuất sắc của Inc. Magazine, một trong Top 25 người sáng tạo web của tạp chí Forbes và một trong Top 10 người làm thay đổi các trò chơi năm 2009 của tờ Huffington Post.

Cashmore phụ trách chuyên mục kỹ thuật và thông tin cho CNN.com. Anh cũng là một trong 40 người sử dụng Twitter được nhiều người đọc nhất. Có hơn 1,8 triệu người đọc tính tới 21-12-2009, hơn 90 người say mê của facebook và hơn 330.000 người đăng ký tham gia.

Ngoài ra, Mashablecủa Cashmore được tạp chí PC , Business Week bình chọn là một trong những blog có lợi nhuận nhất thế giới. Site phục vụ hơn 10 triệu người đọc hàng tháng và có bộ máy 15 người làm việc cả ngày. Nó có hơn 50 người cộng tác thường xuyên và có hàng triệu đôla thu nhập thông qua quảng cáo và kinh doanh sự kiện.

Hiện nay Cashmore phân chia thời gian của mình giữa Scotland, San Francisco, New York và Los Angeles.

Dưới đây là trích đoạn từ một cuộc phỏng vấn Pete Cashmore thể hiện phong cách làm việc và bí quyết thành công của anh.

Anh nổi tiếng nhờ có nội dung mang chất lượng cao, anh có bí quyết gì dành cho những bài có chất lượng trên blog cũng như cách tuyển những người viết?

Nói chung chúng tôi thích những người viết mà có thể nắm bắt được những ý tưởng tổng hợp và giải thích chúng bằng những ngôn từ đơn giản. Chúng tôi giữ những người có kiến thức sâu rộng kết hợp với kỹ năng ngôn ngữ tốt như trữ mật ong trong tổ.

Nếu như anh có thể dùng máy thời gian quay lại thời điểm khi anh khởi đầu anh có lời khuyên nào dành cho chính mình không?

Làm việc sáng suốt hơn, nhưng không cần cù hơn.

Anh có nghĩ bản chất kinh doanh là một cái gì đó có trong máu mình hay đó là một cái gì đó có thể học được?

Tôi tin rằng cái đó có thể học được, nhưng đối với nhiều nhà kinh doanh dường như nó có từ tính cách của họ hoặc từ những kinh nghiệm rất sớm. Tôi tự thấy mình chưa học được nhiều kinh nghiệm từ những nhân vật có uy tín.

Anh có những cuốn sách nào yêu thích liên quan tới kinh doanh, webmaster hoặc phát triển cá nhân mà anh có thể khuyên những nhà kinh doanh khác đọc?

Không, tôi không nhớ những gì tôi đọc, tôi nhớ kinh nghiệm. Tôi cho rằng điều đó tốt nhất để “lặn” đúng và học con đường đi khó khăn.

Nếu Internet không tồn tại anh nghĩ mình có thể làm gì?

Chắc tôi sẽ học luật hoặc chính trị học.

Điều gì anh thích nhất ở Internet?

Những khả năng vô giới hạn.

Điều gì anh ít thích nhất ở Internet?

Thư rác (spam)

Anh có kế hoạch gì (cá nhân hoặc kinh doanh) có thể chia sẻ với chúng tôi về mục đích, kế hoạch, mục đích cuộc đời tương lai?

Ồ, tôi đang vẽ sơ đồ cho một cuộc đời dài, có quá nhiều khả năng và cơ hội ngay bây giờ chỉ đi theo một con đường.

Trong trả lời phỏng vấn cho vator.tv Cashmore đã nói, chính anh đã có cả chuỗi những sai lầm. Nhưng anh lại khuyên rằng: “Bạn đừng lấy lời khuyên, hãy tự tạo những sai lầm của chính mình. Mỗi người một khác, và mỗi người tìm những con đường khác nhau để thành công… Hãy làm điều bạn yêu thích”.

Thiên Giang-Tienphong.vn
Theo retireat21.com/vator.tv

Tuesday, March 30, 2010

Sàn vàng đóng cửa chưa triệt để

Hôm qua (30-3), thời hạn cuối cùng thực hiện chỉ thị của Chính phủ về việc chấm dứt mọi hoạt động liên quan đến sàn giao dịch vàng. Tuy nhiên, các sàn vàng đóng cửa chưa triệt để.

Cầm cự đến phút chót

Chiều 30-3, phần lớn các sàn vàng đã ngưng hoạt động nhưng vẫn còn một số sàn giao dịch cho đến thời điểm cuối cùng. Tại sàn vàng ACB, bảng điện tử giá vàng trực tuyến vẫn thể hiện thông tin giao dịch song rất ít nhà đầu tư mua- bán, giá vàng đóng cửa 25,572 triệu đồng/lượng, khối lượng khớp lệnh chỉ đạt 120 lượng.

Tuy nhiên, chủ sàn đã thông báo cách đây một tuần thời điểm sàn vàng ACB chấm dứt hoạt động là 16 giờ 30 phút ngày 30-3. Nhà đầu tư có nhu cầu rút vàng phải hoàn tất giao dịch trước thời điểm sàn vàng đóng cửa. Sau thời điểm đóng cửa, chủ sàn vàng sẽ chuyển số dư vàng sang tiền đồng và không giải quyết nhu cầu rút vàng của khách hàng.

Đồng thời, sàn vàng ACB căn cứ vào giá vàng khớp lệnh tại thị trường London để đưa ra mức giá phù hợp, tất toán tài khoản của nhà đầu tư chưa thoát khỏi sàn vàng.

Lãnh đạo sàn vàng 24 K cho biết sẽ căn cứ vào giá khớp lệnh tại thời điểm đóng cửa là 3 giờ 30 phút ngày 31-3 (thời điểm cuối của phiên giao dịch ngày 30-3) để thanh lý hợp đồng giao dịch đối với nhà đầu tư còn “kẹt” lại trên sàn vàng.

Giám đốc Công ty Vàng Vina (đơn vị chủ quản sàn vàng Agribank AJC Vina) Nguyễn Trung Anh cho hay sàn vàng Agribank AJC Vina đóng cửa vào 24 giờ ngày 30-3, hệ thống giao dịch sẽ tự động tất toán trạng thái giao dịch của nhà đầu tư tại mức giá đóng cửa.

Trong khi đó, trụ sở của sàn vàng Thế Giới (VTG) trên đường Nguyễn Công Trứ (quận 1- TPHCM) cửa đóng then cài nhưng chủ sàn cũng đã thông báo trước cho nhà đầu tư VTG đóng cửa vào lúc 4 giờ ngày 30-3. Còn sàn vàng Phố Wall giao dịch đến hết ngày 30-3, sàn vàng của Ngân hàng Phương Nam đã đóng cửa vào ngày 25-3...

Do lệnh đóng cửa sàn vàng được ban hành từ ngày 30-12-2009 nên phần lớn nhà đầu tư có đủ thời gian để chọn lựa thời điểm thích hợp tất toán giao dịch. Tuy nhiên, các chủ sàn vàng cho biết hiện vẫn còn số ít nhà đầu tư chưa thoát khỏi thị trường vì trên sàn vàng quá ít người mua - bán, phải chấp nhận cho chủ sàn vàng tất toán tài khoản.

Biến tướng hình thức giao dịch

Điều đáng lưu ý là trong lúc sàn vàng của các ngân hàng nghiêm túc đóng cửa thì sàn vàng các doanh nghiệp khác vẫn hoạt động dưới hình thức đầu tư vàng vật chất kỳ hạn và vàng nữ trang.

Anh T., một nhà đầu tư vàng tại sàn vàng ACB, cho biết được nhân viên của Trung tâm Giao dịch vàng Việt Nam (VGB) tiếp thị cách chơi vàng vật chất kỳ hạn. Để tham gia, nhà đầu tư ký hợp đồng và đóng tiền giao dịch vàng trực tiếp tại ngân hàng, tỉ lệ đặt cọc là 5%.

Đến hạn phải lấy vàng nhưng nhà đầu tư chưa đủ tiền thì phải chịu lãi suất ký gửi duy trì trạng thái. Khi tìm được đối tác mua vàng, nhà đầu tư bán vàng, trừ các khoản lãi suất, thu lại tiền đặt cọc và khoản chênh lệch.

Tại Trung tâm Giao dịch vàng 24 K, nhà đầu tư vẫn có thể mở tài khoản, đặt lệnh mua – bán vàng nữ trang theo phương thức báo giá, được hình thành trên cơ sở giá vàng thế giới và tỉ giá USD/VNĐ do ngân hàng công bố. Với số tiền tương đương 5 lượng vàng, nhà đầu tư có thể giao dịch 95 lượng vàng nữ trang. Điểm khác biệt là nhà đầu tư không mua - bán với nhau mà giao dịch trực tiếp với Trung tâm Giao dịch vàng 24 K.

Giới kinh doanh vàng cho biết trước khi sàn vàng ra đời, kiểu “lướt sóng” vàng vật chất như trên vẫn phổ biến. Nhà đầu tư chốt giá mua – bán ở các tiệm vàng tư nhân. Nếu giá vàng biến động, họ có thể mua - bán nhiều lượt mỗi ngày. Vì vậy, khi sàn vàng đóng cửa, “lướt sóng” vàng vẫn diễn ra nhưng dưới hình thức khác.

(Theo Người Lao Động)

13% doanh nghiệp có nguy cơ phá sản

Ảnh minh hoạ.
Con số này vừa được Thời Báo kinh tế Việt Nam công bố sau khi khảo sát tại 3.940 doanh nghiệp về triển vọng năm 2010.

Theo kết quả khảo sát, có 39% doanh nghiệp cho rằng có nhiều cơ hội phát triển tốt năm 2010 (năm 2009 có 15%). 25% doanh nghiệp cho rằng, năm 2010 vẫn gặp nhiều khó khăn lớn, nhưng hi vọng sẽ vượt qua (năm 2009 có 31%).

Thời Báo Kinh Tế Việt Nam cũng vừa công bố 120 doanh nghiệp đoạt giải thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2010, trong đó Tập đoàn Bưu chính viễn thông đứng đầu trong 120 thương hiệu mạnh, tiếp theo là Công ty SJC, Công ty Sữa Việt Nam…

(Theo VOV)

Ngành báo chí Mỹ làm ăn sa sút

picture

Một trạm bán báo ở San Francisco, California - Ảnh: AFP.


Doanh thu quảng cáo trên của các tờ báo tại Mỹ đã giảm 27% trong năm 2009, xuống mức thấp nhất kể từ năm 1986 tới nay. Sự đi xuống này phản ánh tác động tiêu cực của suy thoái và xu hướng dịch chuyển sang quảng cáo trên Internet.

Hãng tin AP dẫn số liệu từ Hiệp hội Báo chí Mỹ (NAA) cho hay, các tờ báo thành viên của hiệp hội này bán được 27,6 tỷ USD quảng cáo trong năm 2009, so với mức doanh thu 37,8 tỷ USD đạt được trong năm 2008. Con số này bao gồm cả quảng cáo trên báo giấy và phiên bản báo mạng của các tờ báo.

Trong đó, doanh thu quảng cáo báo in giảm 28,6%, xuống còn 24,82 tỷ USD, còn quảng cáo trên phiên bản báo mạng sụt giảm với tốc độ khiêm tốn hơn là 11,8%, còn 2,74 tỷ USD.

Quảng cáo trên phiên bản điện tử của các tờ báo in tại Mỹ mấy năm gần đây liên tục tăng, nhưng khủng hoảng và suy thoái cũng đã khiến doanh thu từ mảng này đi xuống.

Nếu tính cả yếu tố lạm phát thì bức tranh có phần xám màu hơn. Vào năm 1986, ngành báo Mỹ thu hút được số hợp đồng quảng cáo trị giá 27 tỷ USD, tương đương với 53 tỷ USD ngày nay nếu điều chỉnh theo tốc độ lạm phát.

Vào cuối năm 2009, tình hình làm ăn của ngành báo Mỹ có phần cải thiện hơn, làm lóe lên những tia hy vọng về giai đoạn tồi tệ nhất đã qua. Doanh thu quảng cáo trong quý 4 năm ngoái giảm 24% so với cùng kỳ năm trước, còn 7,7 tỷ USD, đánh dấu tháng giảm chậm nhất trong cả năm.

Sự sa sút của doanh thu quảng cáo không chỉ diễn ra ở các tờ nhật báo Mỹ, mà còn tại các kênh truyền thông khác như tạp chí, phát thanh, truyền hình, và thậm chí cả các “gã khổng lồ” Internet như Google. Tốc độ tăng trưởng doanh thu như vũ bão trước đây của Google đã chậm lại đáng kể trong năm qua.

Do khó khăn về doanh thu, công ty mẹ của nhiều tờ nhật báo lớn và có uy tín hàng đầu ở Mỹ như Chicago Tribune, Los Angeles Times, The (Baltimore) Sun, The Philadelphia Inquirer and The Denver Post đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản trong năm qua để giảm nợ. Một số tờ báo khác như Rocky Mountain News chọn con đường đóng cửa, hay tờ Seattle Post-Intelligencer dừng bản in và chỉ duy trì báo mạng. Nhiều nhà báo làm việc tại các tờ báo này đã mất việc.

Quảng cáo rao vặt là bộ phận chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng hơn cả trên các tờ báo Mỹ trong năm qua. Các khách hàng quảng cáo dạng này đang ồ ạt rút sang các trang web áp dụng mức giá rẻ hoặc thậm chí là miễn phí như Craigslist.

Theo NAA, doanh thu quảng cáo rao vặt của báo Mỹ sụt giảm 38% trong năm 2009, còn 6,2 tỷ USD. Vào năm 2000, mảng doanh thu này đạt đỉnh 19,6 tỷ USD. Trước đây, quảng cáo rao vặt chiếm 40% tổng doanh thu quảng cáo trên các tờ báo ở Mỹ, nhưng tỷ lệ này hiện chỉ còn 22%.


(Theo Vneconomy)

Triển vọng ngắn hạn ảm đạm của giá vàng

picture

Giới phân tích quốc tế nhận định, triển vọng đối với vàng trong ngắn hạn không thực sự sáng sủa - Ảnh: AP.

Theo giới kinh doanh vàng, áp lực giảm đối với giá vàng trong nước hiện còn khá lớn

Giá vàng thế giới giảm nhẹ do đồng USD tăng giá, khiến giá vàng trong nước sáng nay giảm thêm 50.000 đồng/lượng so với sáng qua.

Theo giới kinh doanh vàng, áp lực giảm đối với giá vàng trong nước hiện còn khá lớn, một mặt do giá vàng thế giới khó bứt phá, trong khi sức mua vàng vật chất trong nước yếu ớt.

Liên tục duy trì mức chênh lệch giá mua/bán thấp, phổ biến ở quanh ngưỡng 50.000 đồng/lượng, nhưng các tiệm kim hoàn trong suốt hơn một tháng trở lại đây vẫn trong tình trạng vắng khách. Đại diện một số công ty vàng bạc đá quý cho biết, lý do chính khiến người dân không mặn mà với việc đầu tư vàng ở thời điểm hiện nay là nhận thấy khả năng sinh lời hiện ở mức thấp của kim loại quý này.

“Nếu như năm ngoái, giá vàng trong nước dao động trong biên độ 18-29 triệu đồng/lượng, thì từ đầu năm 2010 tới nay, giá vàng bị bó trong vùng 26-27 triệu đồng/lượng. Chính thực tế này khiến các nhà đầu tư chưa muốn bỏ tiền mua vàng nhiều”, chủ một tiệm kim hoàn ở Hà Nội nhận xét.

Ngày hôm qua, các sàn vàng trên cả nước đã chính thức ngừng hoạt động theo quyết định của Chính phủ. Tuy nhiên, việc đóng cửa sàn vàng đã hầu như không có tác động nào tới thị trường vàng vật chất như dự báo trước đó của nhiều người.

Trong không khí trầm lắng của thị trường, giá vàng trong nước sáng nay giảm 50.000 đồng/lượng so với sáng qua, về mức dưới 26,15 triệu đồng/lượng (mua vào) và quanh 26,20 triệu đồng/lượng (bán ra).

Hệ thống Sacombank báo giá vàng SBJ, áp dụng từ thời điểm mở cửa, ở mức 26,14 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,18 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại thị trường Tp.HCM, SJC công bố giá vàng cùng thương hiệu lúc 10h ở mức tương ứng lần lượt là 26,13 triệu đồng/lượng và 26,19 triệu đồng/lượng.

Cùng thời điểm, giá vàng SJC giao dịch tại Công ty Phú Quý (PQJ), thị trường Hà Nội, là 26,13 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,21 triệu đồng/lượng (bán ra).

Giá vàng thế giới đêm qua đi xuống theo sự mạnh lên của tỷ giá USD so với Euro. Kết thúc phiên giao dịch tại thị trường New York, giá vàng giao ngay giảm 5,7 USD/oz (0,5%) so với giá đóng cửa phiên liền trước, còn 1.104,3 USD/oz.

Tuy nhiên, trong phiên giao dịch sáng nay tại thị trường châu Á, giá vàng đã phục hồi về khoảng 1.105-1.107 USD/oz. Mức giá này quy đổi theo tỷ giá USD/VND ngân hàng đang thấp hơn giá vàng bán ra trong nước khoảng 450.000 đồng/lượng.

Tỷ giá Euro/USD giảm trở lại mức 1 Euro tương đương hơn 1,34 USD, từ mức 1 Euro “ăn” trên 1,35 USD trong sáng qua, do những số liệu khả quan về kinh tế Mỹ và nỗi lo về tình hình Hy Lạp.

Tổ chức nghiên cứu Conference Board của Mỹ hôm qua cho biết, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng ở nước này trong tháng 3/2010 đã tăng lên 52,5 điểm - cao hơn mức dự báo 50 điểm của giới phân tích - từ mức 46,4 điểm của tháng 2/2010.

Trong khi đó, giới đầu tư vẫn chưa thực sự yên tâm về tình hình Hy Lạp. Giá trái phiếu chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 7 năm của đợt phát hành ngày 29/3 đã giảm giá mạnh ngay trong ngày giao dịch đầu tiên vào hôm qua, đẩy lợi suất tăng cao. Thêm vào đó, một đợt phát hành trái phiếu khác với kỳ hạn 12 năm của Athens đã chỉ thu hút được lượng đặt mua bằng một nửa khối lượng chào bán.

Dù khối sử dụng đồng Euro đã cam kết sẽ giúp Hy Lạp, dường như thị trường còn chưa tin tưởng vào khả năng thanh toán nợ của Chính phủ nước này. Thời gian qua, cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã tác động tiêu cực tới tỷ giá Euro so với USD cũng như các đồng tiền chủ chốt khác, gây bất lợi cho giá vàng.

Giới phân tích quốc tế nhận định, triển vọng đối với vàng trong ngắn hạn không thực sự sáng sủa. Với sự phục hồi kinh tế toàn cầu, các nhà đầu tư quốc tế đang ưu tiên chuyển vốn sang thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, khả năng tăng giá xa hơn của đồng USD cũng tạo áp lực mất giá đối với kim loại quý.

“Chúng ta sắp bước vào quý 2 của năm, những áp lực đẩy giá vàng xuống vì yếu tố mùa vụ sẽ giảm, nhưng các yếu tố hỗ trợ giá vàng cũng sẽ chỉ ở mức giới hạn. Nếu giá vàng có tăng trong năm nay thì mức tăng cũng nhỏ hơn nhiều so với trong năm ngoái”, nhà phân tích Stefan Grabber thuộc ngân hàng Credit Suisse tại Singapore nhận định trong một báo cáo do hãng tin tài chính Bloomberg thu thập được.

Các nhà phân tích của ngân hàng Deutsche Bank ở Đức thì tin rằng, vàng sẽ giảm giá khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thực hiện việc nâng lãi suất USD trở lại từ mức thấp kỷ lục hiện nay. “Triển vọng FED thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ cản trở sự phục hồi mạnh của giá vàng vì điều đó sẽ giúp tăng cường sức mạnh cho đồng USD”, Bloomberg dẫn một báo cáo ngày 30/3 của Deutsche Bank.

Giá dầu thô ngọt nhẹ đêm qua tăng nhẹ nhờ các dữ liệu kinh tế khả quan của Mỹ, đóng cửa ở mức 82,37 USD/thùng, cao hơn giá chốt phiên liền trước 0,2 USD/thùng (0,2%). Sáng nay, giá dầu giao kỳ hạn tháng 5/2010 tiếp tục được giao dịch ở mức trên 82 USD/thùng.

Tỷ giá USD/VND liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục duy trì ở mức 18.544 VND/USD. Tại ngân hàng Vietcombank, giá mua và bán USD lần lượt là 19.070 VND/USD và 19.100 VND/USD.

Tại thị trường Hà Nội sáng nay, một số điểm giao dịch ngoại tệ mua và bán USD với giá tương ứng lần lượt là 19.250 VND/USD và 19.270 VND/USD, giảm tương ứng 30 VND/USD và 40 VND/USD so với sáng qua.


(Theo Vneconomy)

Vốn ngân hàng đang thuận hay đang khó?

Lượng vốn “bơm” qua thị trường mở tăng mạnh trở lại, lãi suất liên ngân hàng tuần thứ hai liên tiếp cho xu hướng tăng. Điều này có thể dẫn tới hoài nghi về khó khăn vốn của hệ thống ngân hàng hiện nay (tất nhiên là không phải tất cả các thành viên) - Ảnh: Quang Liên.

Giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đang có xu hướng tăng, lượng vốn “bơm” qua thị trường mở cũng lại nhiều hơn
Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đang có xu hướng tăng, lượng vốn “bơm” qua thị trường mở cũng lại nhiều hơn.

Hai tuần cuối tháng 3, diễn biến giao dịch trên thị trường liên ngân hàng và kết quả đấu thầu trên thị trường mở có dấu hiệu đảo ngược. Thông tin công bố chưa chi tiết và cụ thể có thể dẫn đến những suy tính khác nhau…

Vốn hỗ trợ tăng, lãi suất “bật” lại

Nếu hai tuần tính từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 3, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng giảm, thì hai tuần cuối tháng 3 xu hướng tăng đang trở lại.

Theo dữ liệu cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước, tuần cuối tháng 2 đầu tháng 3, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có sự sụt giảm rõ rệt; mức giảm mạnh nhất ghi nhận tới 3,34%/năm, tập trung ở các kỳ hạn ngắn (qua đêm, 1 tuần). Lãi suất kỳ hạn qua đêm dao động từ 6,16% - 8,47%/năm, bình quân ở mức 7,44%/năm; lãi suất bình quân các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng ở mức từ 9,07% - 10,98%/năm.

Ở tuần nối tiếp, xu hướng giảm trên tiếp tục khẳng định, giảm ở hầu hết các kỳ hạn với mức giảm từ 0,25% - 1,41%/năm. Đáng chú ý là lãi suất qua đêm có tuần thứ 3 liên tiếp giảm, chỉ còn dao động từ 6,60% - 7,60%/năm, bình quân ở mức 6,95%/năm, giảm 0,49%/năm.

Những diễn biến trên được cho là tích cực, phản ánh thời điểm căng thẳng thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã dần qua. Trước đó, trước và sau Tết Nguyên đán, nhiều thông tin phản ánh có trường hợp lãi suất trên thị trường này “treo” tới 17%, còn báo cáo cập nhật của Ngân hàng Nhà nước ghi nhận lãi suất qua đêm lên tới 12%/năm. Và cùng với diễn biến tích cực trên, nhà điều hành phát đi thông điệp: vốn khả dụng của hệ thống dư thừa 30.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, hai tuần trở lại đây lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có dấu hiệu tăng trở lại. Dù không mạnh, nhưng lãi suất giao dịch bình quân bằng VND tuần trước đã tăng từ 0,02% - 0,84%/năm, tiếp tục tăng thêm 0,04% - 0,23%/năm và có ở hầu hết các kỳ hạn.

Báo cáo ngày 30/3 của Ngân hàng Nhà nước cho biết, mức bình quân của lãi suất qua đêm đã trở lại 7,24%/năm thay cho 6,95%/năm trước đó; trong khi lãi suất bình quân các kỳ hạn từ 3 tháng và 6 tháng vẫn là các kỳ hạn có mức bình quân cao nhất, lần lượt là 11,76%/năm và 11,83%/năm.

Trên thị trường mở (OMO), kết quả đấu thầu các phiên nửa cuối tháng 3 đã tăng trở lại, thay vì sự sụt giảm rõ rệt trong nửa đầu tháng 3.

Cụ thể, lượng vốn “bơm” qua thị trường này trong ngày 3/3 vẫn còn tới 10.000 tỷ đồng, thì các ngày tiếp theo 4, 5, 8/3 chỉ còn lần lượt 3.200 tỷ đồng, 3.130 tỷ đồng và 2.308 tỷ đồng. Đặc biệt, liên tiếp các phiên đấu thầu ngày 11 – 18/3, lượng vốn hỗ trợ chỉ trong khoảng 400 – 750 tỷ đồng, cá biệt có phiên không có thành viên nào dự thầu.

Nhưng từ tuần qua, kết quả đấu thấu qua nghiệp vụ thị trường mở đã bắt đầu tăng mạnh trở lại. Liên tiếp các phiên thứ 93 và 94 ngày 22 và 23/3, khối lượng trúng thầu đã lên đến 6.014 tỷ đồng và tới 12.000 tỷ đồng. Sự gia tăng trở lại của nguồn vốn hỗ trợ này được một số công ty chứng khoán bám sát và có cả sự hoài nghi về khó khăn nguồn vốn hiện nay.

Những phiên gần đây, lượng vốn qua thị trường mở dần “hạ nhiệt” nhưng vẫn ở mức cao nếu so với thời điểm đầu tháng 3, có từ gần 4.000 tỷ đồng đến 5.700 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước hứa sẽ “cởi mở”

Lượng vốn “bơm” qua thị trường mở tăng mạnh trở lại, lãi suất liên ngân hàng tuần thứ hai liên tiếp cho xu hướng tăng. Điều này có thể dẫn tới hoài nghi về khó khăn vốn của hệ thống ngân hàng hiện nay (tất nhiên là không phải tất cả các thành viên).

Cá biệt, thứ Hai ngày 22/3, khi con số 12.000 tỷ đồng hình thành trên thị trường mở, một công ty chứng khoán “giật mình” với lo ngại liệu thanh khoản hệ thống vẫn chưa giải quyết được các “vấn đề”?

Thông thường, lượng vốn quá thị trường mở liên tiếp tăng cao, cộng với xu hướng tăng lãi suất liên ngân hàng, thường định hình lo ngại đó. Để củng cố thêm, dữ liệu bổ sung được chờ đợi là tốc độ tăng trưởng huy động và tín dụng tháng 3 sắp được công bố. Thị trường cũng chờ đợi xem bất cập trong huy động và cho vay có dấu hiệu cải thiện hay không, khi tình trạng tốc độ tăng trưởng huy động thấp hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng kéo dài trong năm 2009.

Tuy nhiên, theo ý kiến một chuyên gia, qua những con số và diễn biến đó cũng khó kết luận trạng thái hiện tại của hệ thống, ngoại trừ… nhà quản lý.

Yêu cầu đặt ra là thông tin công bố cần chi tiết để gia tăng ý nghĩa cho những con số đó. Lập luận mà chuyên gia trên đưa ra là doanh số trên thị trường liên ngân hàng cao có thể hiểu là thị trường đang hoạt động tốt, ngược lại cũng có thể cho thấy quá nhiều ngân hàng thiếu thanh khoản, hay đáng quan tâm hơn là có hiện tượng lạm dụng vốn ở thị trường này hay không; doanh số thấp lại nên hiểu là thị trường đóng băng hay thanh khoản hệ thống đang ổn định…

Hay ở một yêu cầu thông tin chi tiết khác, lãi suất liên ngân hàng cần gắn với quy mô doanh số cụ thể của từng giao dịch, cụ thể ở các kỳ hạn, bởi lãi suất cao của một món vay nhỏ không thể là mẫu số chung cho diễn biến của cả thị trường, rộng hơn là sự phản ánh trạng thái vốn của hệ thống. Thực tế, thời gian qua vẫn có những bàn luận chỉ xoay quanh các con số 17%, 18% mà thiếu tập trung ở tính đại diện của nó.

Để đáp ứng yêu cầu trên, mới đây Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ “cởi mở” hơn trong thông tin về thị trường liên ngân hàng.

Cơ quan này cho biết: “Nhằm đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, hàng tuần Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của thị trường liên ngân hàng và đăng tải các thông tin này trên website. Đây là những thông tin công khai, minh bạch về hoạt động thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước cung cấp”.

Còn thời gian qua và hiện tại, thông tin về tình hình hoạt động của thị trường liên ngân hàng cập nhật chủ yếu là về lãi suất. Đây mới chỉ là các thông tin chung, chưa nêu bật được toàn cảnh hoạt động của thị trường liên ngân hàng.

“Trong khi đó, những thông tin trên thị trường liên ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, không chỉ của các thành viên thị trường mà còn của các tổ chức tín dụng chưa tham gia thị trường, các tổ chức kinh tế cũng như các bạn đọc quan tâm đến các hoạt động của nền kinh tế”, Ngân hàng Nhà nước nhận định.

(Theo Vneconomy)

Ban kiểm soát bị vô hiệu hóa như thế nào?

Minh họa: Khều.

Trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng và công ty niêm yết, vai trò của ban kiểm soát là hết sức quan trọng
Trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng và công ty niêm yết, vai trò của ban kiểm soát là hết sức quan trọng.

Ngoài chức năng chính là giám sát hoạt động của hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc, nhằm ngăn chặn và phát hiện những trường hợp sai phạm, thiếu sót, bất minh, bất hợp lý, xung đột lợi ích… trong việc quản lý, điều hành công ty; ban kiểm soát còn đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt được hiệu quả cao nhất.

Trong một công ty hoạt động minh bạch, hoặc có mong muốn hoạt động minh bạch, hội đồng quản trị và tổng giám đốc/giám đốc công ty luôn nhìn nhận ban kiểm soát dưới góc độ vừa là người “thổi còi”, giúp hội đồng quản trị ngừng ngay các sai phạm, để không đi quá xa; vừa là người hỗ trợ tích cực cho các hoạt động cải tiến, đặc biệt trong các lĩnh vực “nhạy cảm” như quản lý tài chính, quản lý đầu tư, quản lý quan hệ cổ đông…

Thế nhưng, ở không ít các công ty, ban kiểm soát chỉ đóng vai trò như con bù nhìn, được chính hội đồng quản trị và các cổ đông lớn dựng lên cho có và hoàn toàn bị vô hiệu hóa, thậm chí còn được xem là lực lượng hậu thuẫn, đứng sau, tiếp tay cho hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc dấn sâu vào những hoạt động sai phạm, xâm phạm lợi ích các cổ đông nhỏ lẻ.

Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần thường bị vô hiệu hóa như thế nào?

Luật Doanh nghiệp, mặc dù có biện pháp bảo vệ cổ đông nhỏ thông qua điều khoản quy định tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên ban kiểm soát, nhưng các ràng buộc trong luật lại khá lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở.

Điều 122, Luật Doanh nghiệp, (khoản 1, mục a) quy định thành viên ban kiểm soát không được là “vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc và người quản lý khác”.

Tuy nhiên, mối quan hệ thân thiết với các thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc không chỉ là các thành phần trên mà còn nhiều quan hệ khác như chú, bác, cô, dì ruột, anh, em nhà chú bác, cô, dì, anh, em vợ (chồng)… Nhiều công ty đã lợi dụng kẽ hở này để đưa người thân vào ban kiểm soát nhằm có thêm tiếng nói ủng hộ hơn là để kiểm soát.

Khoản 2, điều 122 cũng quy định: “Thành viên ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty”. Sự ràng buộc này càng không có ý nghĩa khi hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc đưa nhân viên cấp thấp vào làm thành viên ban kiểm soát để dễ bề sai khiến.

Rất dễ thấy lương, thưởng, hợp đồng lao động và các điều kiện thăng tiến của nhân viên cấp thấp đều trực tiếp do tổng giám đốc/giám đốc hoặc gián tiếp do hội đồng quản trị quyết định. Liệu có ai dám “kiểm soát” một người có quyền quyết định mức thu nhập và tương lai, sự nghiệp của mình?

Mặt khác, nếu không phải là người bà con họ hàng hay nhân viên trong công ty, hội đồng quản trị và tổng giám đốc/giám đốc vẫn có thể vô hiệu hóa ban kiểm soát thông qua việc không bỏ phiếu cho những người có khả năng và dũng khí để làm công tác kiểm soát.

Với số phiếu áp đảo, các thành viên hội đồng quản trị (thường là các cổ đông lớn) có quyền đề cử và bỏ phiếu cho người cùng phe cánh với mình vào ban kiểm soát và loại bỏ những người không cùng phe cánh với mình ra ngoài.

Nếu có ai đó không thuộc phe cánh của hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc mà may mắn được lọt vào trong thành phần ban kiểm soát, thì người này cũng sẽ bị làm khó, cản trở, không cho tiếp cận các thông tin nhạy cảm liên quan đến các sai phạm của hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc.

Trong các trường hợp trên, sự hiện diện của ban kiểm soát sẽ chỉ thêm tốn tiền của cổ đông (vì phải chi trả thu nhập cho các thành viên ban kiểm soát) mà không đem lại lợi ích gì. Không ngạc nhiên khi hầu hết các báo cáo của ban kiểm soát trong các cuộc họp đại hội cổ đông đều khen hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc, chứ không mấy khi thấy chê.

Cơ chế nào để ban kiểm soát thực sự là một tổ chức độc lập, làm đúng chức năng giám sát và kiểm soát mà không bị vô hiệu hóa hoặc được dựng lên như bù nhìn để hậu thuẫn sau lưng hội đồng quản trị và tổng giám đốc/giám đốc?

Cơ chế đơn giản và hiệu quả nhất là các thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc không được quyền đề cử và không được quyền bỏ phiếu bầu thành viên ban kiểm soát. Điều này là hợp lý, bởi lẽ ban kiểm soát không tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, không có vai trò trong việc làm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả, mà chỉ đóng vai trò giám sát hoạt động quản lý điều hành doanh nghiệp của hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc.

Một trong những nguyên tắc quan trọng khi xây dựng Luật Doanh nghiệp là hạn chế thấp nhất những xung đột lợi ích trong hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp. Khi một người có quyền đề cử, ủng hộ hoặc loại bỏ một người có quyền giám sát mình thì hành vi đó được xem là có xung đột lợi ích. Tương tự như trong nguyên tắc bỏ phiếu trong hội đồng quản trị, khi sự việc có liên quan đến lợi ích của thành viên nào thì thành viên đó không được quyền bỏ phiếu.

Tuy nhiên, trong khi chờ đợi những thay đổi về luật, cổ đông nhỏ nên biết cách liên kết để tạo sức mạnh. Cần phải liên kết để đưa ít nhất một người vào trong ban kiểm soát thông qua việc thành lập nhóm cổ đông thiểu số để đề cử người và sau đó tập hợp phiếu bầu để bầu dồn phiếu cho người mà mình đề cử.

Thành viên ban kiểm soát phải là người có năng lực, phải am hiểu điều lệ công ty, phải am hiểu Luật Doanh nghiệp và một số luật liên quan khác như Luật Chứng khoán, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế giá trị gia tăng…; và có những hiểu biết nhất định về tài chính, kế toán, về hệ thống quản lý và các nguyên tắc quản trị công ty.

Quan trọng nhất, thành viên ban kiểm soát phải có đủ dũng khí và bản lĩnh để đương đầu với sức ép và cả sự mua chuộc bằng nhiều cách, từ hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc đang cố ý làm trái.

Đằng sau các thành viên ban kiểm soát chân chính luôn có sự ủng hộ của Điều lệ công ty (thường theo đúng chuẩn mực luật pháp) và các quy định của luật pháp. Nếu tiếng nói cảnh báo, ngăn chặn chính đáng của mình bị coi thường hoặc bỏ qua, thành viên ban kiểm soát có quyền nêu vấn đề một cách độc lập (không phụ thuộc vào ý kiến của các thành viên khác trong ban kiểm soát) ra đại hội đồng cổ đông, ra các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan pháp luật, thậm chí có quyền khởi kiện ra tòa.

Thiết tưởng, một cơ chế chặt chẽ hơn để hạn chế sự lũng đoạn cố tình của hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc và các cổ đông lớn trong các công ty cổ phần là hết sức cần thiết trong bối cảnh hoạt động của ban kiểm soát, nhìn chung, chỉ mang nặng tính hình thức mà không mấy hiệu quả.

Ly Nguyễn (TBKTSG)

Không nên dời trung tâm hành chính thủ đô

Quy hoạch thủ đô mở rộng bất ổn, không khả thi, chưa đánh giá lại việc ngập úng, chưa tính hết bài toán kinh tế…

Xét cả về các mặt kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật, chúng tôi cho rằng quy hoạch Hà Nội mở rộng thiếu tính khả thi. Cuối tuần này, chúng tôi sẽ gửi ý kiến phản biện tới nhiều cơ quan với mong muốn giúp các đồng chí lãnh đạo nhà nước và Hội đồng Thẩm định quốc gia thấy rõ mặt trái của quy hoạch này và để Liên danh Tư vấn quốc tế PPJ sửa chữa. Sau khi sửa xong, Quốc hội, Chính phủ mới thông qua.

Không thể theo ý chí chủ quan

Việc di dời 400.000 dân khỏi nội thành Hà Nội đến năm 2030 là không thực tế và khả thi. Bởi quy hoạch trước đây Hà Nội đã đề ra việc giảm dân trong bốn quận nội thành cũ nhưng dân số trong đô thị lõi vẫn tăng, không theo ý chí chủ quan của người làm quy hoạch. Số dân trong nội thành hiện sống với điều kiện nhà cửa chật hẹp, chủ yếu là ở 36 phố cổ và ở “xóm liều, xóm bụi”. Trong đó, số người muốn chuyển ra ngoại thành để có điều kiện sống tốt hơn là không lớn. Vì vậy, Hội Môi trường xây dựng Việt Nam kiến nghị trong quy hoạch mới phải chấp nhận số dân nội thành hiện có. Không cho tiếp tục xây nhiều công trình cao tầng đồ sộ như trung tâm thương mại, chung cư cao tầng, khách sạn… để giảm số dân tăng thêm.

Theo đồ án quy hoạch, dòng chảy trong nội đô Hà Nội về cơ bản tuân thủ như quy hoạch đã được duyệt trước đây. Thực tế khi thực hiện quy hoạch thoát nước đã không đạt yêu cầu. Hà Nội vẫn bị úng ngập trầm trọng, nước sông hồ vẫn bị ô nhiễm... Vì vậy, trong quy hoạch mới phải đánh giá lại, tìm đúng nguyên nhân không thành công và đề ra phương án quy hoạch thoát nước mới cho thủ đô một cách hoàn chỉnh và có hiệu quả thật sự.

Một góc thủ đô Hà Nội. Ảnh: H.VÂN

Việc tính toán lưu lượng thoát nước mưa cũng cần phải xem lại. Thực tế năm 2008, Trạm bơm Yên Sở không bơm được hết nước úng ngập trong trận lụt lịch sử của Hà Nội. Với sự biến đổi khí hậu, vùng thủ đô Hà Nội có thể bị úng ngập trầm trọng hơn. Tuy nhiên, quy hoạch cấp nước và thoát nước của đồ án quy hoạch thủ đô đã không tính đến điều này.

Chuyển trung tâm hành chính: Bất ổn, nợ nần

Không được hồi âm

Ngay từ tháng 12-2009, Hội đã có văn bản đề nghị cần kéo dài thời gian thông qua đồ án và cần có báo cáo riêng về đánh giá môi trường chiến lược của Hà Nội. Tuy nhiên, những đề xuất này của Hội gửi tới Chính phủ, Bộ xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã không nhận được văn bản trả lời.

Việc chuyển trung tâm hành chính quốc gia lên Hòa Lạc, Ba Vì sau năm 2030, theo Hội Môi trường xây dựng Việt Nam sẽ gây xáo trộn hệ thống giao thông, thị trường bất động sản và xáo trộn về cuộc sống của hàng vạn người, thậm chí sẽ gây bất ổn xã hội. Như vậy sẽ dẫn đến chi phí vận hành của thủ đô Hà Nội là vô cùng lớn so với giữ nguyên trung tâm hành chính quốc gia ở Hà Nội như hiện nay. Chỉ có các nước giàu có thì mới chịu nổi chi phí này.

Mặt khác, vùng Ba Vì chỉ thích hợp là vùng bảo vệ thiên nhiên, du lịch sinh thái và là vùng tâm linh quan trọng của Hà Nội mở rộng, không phù hợp để xây dựng đô thị trung tâm hành chính quốc gia.

Theo thuyết minh, chi phí quy hoạch chỉ tính đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030 đã là khoảng 60 tỉ USD là chưa tính hết. Bởi thông thường công trình xây dựng có chi thực tế cao hơn dự toán. Vì vậy, ước tính có thể phải đầu tư cho xây dựng hạ tầng đến năm 2030 mất khoảng 100 tỉ USD, tức mỗi năm phải đầu tư 5 tỉ USD thì liệu rằng ngân sách nước ta mỗi năm có dành được tối đa 1 tỉ USD không, còn 4 tỉ USD lấy ở đâu ra? Nếu đi vay ta sẽ thành con nợ quốc tế và như thế là phát triển thiếu bền vững.

GS PHẠM NGỌC ĐĂNG

Nguồn: HOÀNG VÂN - PhapluatTp

Tiền nhà và thu nhập tiền lương tiền công NET, GROSS theo Luật Thuế TNCN

Hiện nay, theo quy định của Thông tư hướng dẫn một số điều của Luật Thuế TNCN, khoản tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ: tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà) đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Theo quy định đó, có thể tóm tắt tiền nhà theo công thức sau: Tiền nhà = Tổng Thu nhập chịu thuế (không có tiền nhà) X 15%. Mà theo Luật Thuế TNCN, Tổng thu nhập chịu thuế là bao gồm cả các khoản giảm trừ, các khoản bảo hiểm bắt buộc cá nhân nộp. Thuế TNCN của cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công = Thu nhập tính thuế X Thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần (hướng dẫn tại phụ lục 02/PL-TNCN ban hành kèm Thông tư 84/2008 của Bộ Tài chính)

Ở đây, vấn đề đặt ra là khi cá nhân lãnh lương NET (tức thu nhập chịu thuế sau thuế) thì quy đổi ra tổng Thu nhập chịu thuế để tính tiền nhà như thế nào? Theo phụ lục 02/PL-TNCN hướng dẫn 7 bậc thuế suất thuế TNCN đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh ta thấy có thu nhập tính thuế (TNTT). TNTT ở đây phải được hiểu là TNTT Gross tức TNTT có thuế TNCN. Cá nhân nếu đã lãnh lương Gross thì chỉ việc lấy tiền lương đó trừ đi các khoản giảm trừ theo quy định sẽ có TNTT Gross. Còn đối với cá nhân lãnh lương Net muốn quy đổi về TNTT Gross phải dựa vào phụ lục 01/PL-TNCN ban hành kèm Thông tư 84/2008 của Bộ Tài chính để quy đổi và trước khi áp vào biểu 01/PL-TNCN, tiền lương Net đó phải được trừ đi khoản giảm trừ để ra TNTT Net rồi mới quy đổi điều này đã được Tổng cục Thuế hướng dẫn tại công văn 1578 ngày 28/4/2009, tức:

TNTT Net = Tổng TNCT Net – các khoản giảm trừ

Từ lý luận trên, ta thấy cụm từ trong phụ lục 01/PL-TNCN: “BẢNG QUY ĐỔI THU NHẬP SAU THUẾ RA THU NHẬP TRƯỚC THUẾ”, cần lưu ý cụm từ “THU NHẬP SAU THUẾ” phải được hiểu là TNTT Net. Do đó, khi tính được TNTT Gross thông qua phụ lục 01/PL-TNCN ta phải cộng lại các khoản giảm trừ (Theo quy định của Luật Thuế TNCN) để ra Tổng TNCT (không có tiền nhà) từ đó việc tính tiền nhà sẽ bằng Tổng TNCT đó nhân (X) 15% và Tổng Thu nhập chịu thuế để khai thuế TNCT= Tổng TNCT (không có tiền nhà) + Tiền nhà.

Sau đây là một ví dụ theo cách tính trên:

Ví dụ: Ông A là cá nhân cư trú tại Việt Nam, hàng tháng ông A lãnh lương Net 35 triệu, tiền nhà công ty sẽ trả cho ông A 10 triệu/tháng. Ông A có khai giảm trừ gia cảnh cho 02 con dưới 18 tuổi. Vậy Tổng Thu nhập chịu thuế ông A sẽ khai thuế TNCN trong tháng như sau:

Thu nhập tính thuế Net/tháng của ông A là :

35.000.000 – {4.000.000 (bản thân)+ 3.200.000 (hai con)} = 27.800.000 đồng

Căn cứ theo phụ lục 01/PL-TNCN để quy đổi về TNTT Gross (bậc 5). Thu nhập tính thuế Gross:

(27.800.000- 3.250.000)/0,75 = 32.733.333 đồng.

Tổng Thu nhập chịu thuế (không có tiền nhà):

32.733.333 + 7.200.000 (Giảm trừ gia cảnh) = 39.933.333 đồng.

Tiền nhà:

39.933.333 X 15% = 5.990.000 đồng

Vậy Tổng Thu nhập chịu thuế của ông A khai thuế TNCN là:

39.933.333 + 5.990.000 = 45.923.333 đồng.

Hiện nay, có quan điểm tính tiền nhà theo cách khi quy đổi về Thu nhập tính thuế Gross rồi lấy đó nhân luôn 15% để ra tiền nhà rồi cộng lại để ra Tổng Thu nhập chịu thuế để khai thuế TNCN. Với cách hiểu này thì với ví dụ trên, tổng thu nhập chịu thuế để khai thuế được tính như sau:

Tiền nhà:

32.733.333 x 15% = 4.910.000 đ

Tổng Thu nhập chịu thuế của ông A khai thuế TNCN là:

32.733.333 + 4.910.000 = 37.643.333 đ

Từ hai cách tính số Tổng Thu nhập chịu thuế chênh lệch:

45.923.333 – 37.643.333 = 8.280.000 đ.

Do vậy, để được thống nhất về cách hiểu và cách tính sao cho vừa công bằng và rõ ràng, vừa đúng về mặt lý luận rất cần sự hướng dẫn từ cấp vĩ mô, kể cả thu nhập từ kinh doanh Net để quy đổi về Gross trong hoạt động cho thuê nhà của cá nhân cư trú./.

Theo Thanh niên online

CV 3621/BHXH-THU hướng dẫn tỉ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN, mức lương tối thiểu vùng

Kính gửi:

Các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

- Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế;
- Căn cứ Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính Phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế;
- Căn cứ Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động và các thông tư hướng dẫn thực hiện số 35/2009/TT-BLĐTBXH, số 36/2009/TT-BLĐTBXH ngày 13/11/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
- Căn cứ Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam.
Sau khi trao đổi thống nhất với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội thành phố hướng dẫn một số quy định mới về BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc theo Luật BHXH, Luật BHYT áp dụng từ ngày 01/01/2010 như sau;

1/ Tỉ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN:

Từ ngày 01/01/2010 tỉ lệ đóng BHXH là 22%; BHYT là 4.5%; BHTN là 2%. Trong đó, người sử dụng lao động đóng 16% BHXH; 3% BHYT; 1% BHTN, người lao động đóng 6% BHXH; 1.5% BHYT; 1% BHTN.

2/ Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN:

- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

- Người lao động đóng BHXH, BHYT, BHTN theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động gồm mức lương chính hoặc tiền công và phụ cấp được ghi tại khoản 1 Điều 3 trong bản hợp đồng lao động.

- Trường hợp mức tiền lương, tiền công đóng BHXH, BHYT, BHTN theo quy định cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.

3/ Mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01/01/2010:

- Mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các doanh nghiệp quy định tại Điều 1 nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ:

+ Mức 980.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

+ Mức 880.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

- Mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động Việt Nam làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam:

+ Mức 1.340.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

+ Mức 1.190.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

- Người lao động ký hợp đồng lao động tại văn phòng hoặc trụ sở chính đóng tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng làm việc ở các vùng khác thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng tại địa điểm làm việc ghi trong hợp đồng lao động.

- Mức lương tối thiểu vùng là căn cứ để tính các mức lương, phụ cấp lương ghi trong hợp đồng lao động, doanh nghiệp không được dùng mức lương này làm cơ sở đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với người lao động đã qua học nghề (kể cả do doanh nghiệp tự dạy nghề). Mức tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.

4. Xử lý vi phạm BHYT:

Kể từ 01/10/2009, Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế mà không đóng hoặc đóng không đầy đủ theo quy định của pháp luật thì cùng với việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, sẽ phải nộp số tiền lãi trong thời gian chậm đóng, tương tự như tiền chậm đóng BHXH, BHYT. Tiền lãi chậm đóng BHYT được tính theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố theo quy đinh tại Điều 49 Luật Bảo hiểm y tế.

(Mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố trước ngày 01/12/2009 là 7%/năm, từ ngày 01/12/2009 là 8%/năm).

Đề nghị các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn thành phố thực hiện việc đóng BHXH, BHYT, BHTN theo đúng quy định và các nội dung hướng dẫn bổ sung theo văn bản này./.

KT. GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Đỗ Quang Khánh


Download (139 KB)

Geely mua Volvo: Thương vụ lịch sử của ngành ôtô Trung Quốc

Ông Li Shufu, Chủ tịch Geely, phát biểu tại cuộc họp báo diễn ra sau lễ ký kết thỏa thuận tại Goteborg, Thụy Điển - Ảnh: AP.

Hãng xe Ford vừa đạt thỏa thuận bán lại chi nhánh Volvo cho tập đoàn Zhejiang Geely Holding Group của Trung Quốc
Hãng xe Ford vừa đạt thỏa thuận bán lại chi nhánh Volvo cho tập đoàn Zhejiang Geely Holding Group của Trung Quốc. Đây được ghi nhận là thương vụ mua lại lớn chưa từng có trong lịch sử ngành công nghiệp ôtô của Trung Quốc.

Theo thông tin đăng tải trên tờ New York Times, thỏa thuận giữa Ford và Geely đã được hai bên công bố vào ngày 28/3 theo giờ Mỹ, tức sáng 29/3 theo giờ Việt Nam. Theo thỏa thuận, Geely sẽ trả cho Ford 1,8 tỷ USD để có được Volvo, trong đó 1,6 tỷ USD là tiền mặt, còn lại là hối phiếu. Dự kiến, thỏa thuận sẽ được hai bên hoàn tất vào quý 3 năm nay.

Bán Volvo ở mức giá trên, Ford xem ra đã lỗ khá đậm, vì vào năm 1999, Ford đã mua thương hiệu xe này với mức giá 6 tỷ USD. Mấy năm gần đây, với việc chuyển trọng tâm chiến lược sang các mẫu xe “bình dân”, Ford đã bán lại nhiều thương hiệu xe hạng sang, bao gồm các thương hiệu Jaguar và Land Rover được sang tay cho tập đoàn Tata của Ấn Độ với mức giá 2,3 tỷ USD.

Tờ New York Times nhận định, vụ mua lại Volvo - thương hiệu xe hàng đầu của châu Âu, có xuất xứ từ Thụy Điển - là bằng chứng mới nhất và rõ nét nhất về mục tiêu vươn ra thị trường ôtô toàn cầu của Trung Quốc. Hãng tin tài chính Bloomberg cho biết, thỏa thuận mua lại Volvo đánh dấu thương vụ lớn nhất từ trước tới này trong ngành công nghiệp ôtô của Trung Quốc.

Năm ngoái, ngành công nghiệp ôtô của Trung Quốc cũng đã đạt một cột mốc quan trọng khi vượt qua Mỹ, trở thành thị trường ôtô lớn nhất thế giới xét về doanh số. Trong khi đó, xét về mặt giá trị, thì thị trường xe Mỹ vẫn dẫn đầu. New York Times dẫn số liệu từ hãng nghiên cứu thị trường J.D. Power & Associates cho hay, giá bình quân của một chiếc ôtô được tiêu thụ tại Trung Quốc trong năm 2009 là 17.000 USD, so với mức 30.000 USD tại thị trường xe Mỹ.

Geely, tập đoàn có trụ sở ở Hàng Châu, cho hay, họ dự định sẽ duy trì hoạt động sản xuất xe Volvo tại Thụy Điển, và có thể sẽ xây thêm một nhà máy nữa tại Trung Quốc để xuất xưởng những chiếc xe thương hiệu này. Hiện Ford đã sản xuất một số mẫu xe Volvo kích thước nhỏ dành riêng cho thị trường Trung Quốc tại nhà máy lắp ráp đặt tại Trùng Khánh.

Là công ty con chuyên về ôtô trong tập đoàn Geely, Geely Automobile là hãng xe lớn thứ hai ở Trung Quốc xét về sản lượng xe năm 2010 tính tới thời điểm hiện nay. Trong số các hãng xe tư nhân của Trung Quốc, Geely Automobile chỉ đứng thứ hai, sau BYD Group.

Mặc dù vẫn thu được phần lớn lợi nhuận từ các mẫu xe cỡ nhỏ, Geely đã gây ấn tượng không nhỏ tại nhiều triển lãm ôtô bằng các mẫu xe ý tưởng trông tương tự như các mẫu xe thể thao của châu Âu và thậm chí là xe Rolls-Royce. Geely đã bắt đầu tham gia cuộc đua giành quyền mua lại Volvo từ cuối năm ngoái.

Geely tuyên bố họ dự định sẽ duy trì ban lãnh đạo hiện tại của Volvo, nhưng theo một số nguồn tin mà New York Times thu thập được, tập đoàn này đã thuê nhiều gương mặt có kinh nghiệm trong ngành công nghiệp ôtô thế giới để lãnh đạo bộ phận mới này.

Nắm cổ phần lớn nhất trong tập đoàn Geely hiện nay là người sáng lập Li Shufu. Xuất thân từ một gia đình nông dân, ông Li đã gây dựng nên Geely từ một công ty nhỏ chuyên sản xuất phụ tùng xe máy.


(Theo Vneconomy)

Bán cổ phần Citigoup, Chính phủ Mỹ “thắng” lớn

picture

Giám đốc điều hành Citigoup, ông Vikram Pandit. Hiện tại, dù còn chưa phục hồi hoàn toàn, tình hình của Citigroup đã cải thiện nhiều. Tháng 12 năm ngoái, Citigroup được các nhà chức trách Mỹ cho phép hoàn trả 20 tỷ USD tiền giải cứu và kết thúc chương trình bảo lãnh của Chính phủ liên bang - Ảnh: Getty/Daylife.

Với kế hoạch bán lại toàn bộ số cổ phần sở hữu đang nắm giữ trong Citigroup, Chính phủ Mỹ có thể thu khoản lãi hơn 8 tỷ USD

Gần 18 tháng sau khi rót vốn cứu trợ Citigroup khỏi sự sụp đổ, Chính phủ Mỹ tuyên bố kế hoạch bán lại toàn bộ số cổ phần sở hữu đang nắm giữ trong ngân hàng này. Ước tính, khoản lãi mà Washington thu được từ vụ đầu tư này có thể lên tới hơn 8 tỷ USD.

Theo New York Times, Bộ Tài chính Mỹ ngày 29/2 cho hay họ sẽ bán lại 7,7 tỷ cổ phiếu phổ thông trong Citigroup trong năm 2010. Theo đó, mức cổ phần sở hữu của Chính phủ Mỹ trong Citigroup sẽ giảm dần thông qua các vụ bán cổ phiếu ngân hàng này ra thị trường.

Tờ báo này cho hay, Chính phủ Mỹ có thể lãi trên 8 tỷ USD nếu tính theo giá cổ phiếu của Citigroup ngày 29/3. Đó là còn chưa kể tới 8,1 tỷ USD tiền lãi và các khoản phí khác mà Washington đã thu từ việc bơm tiền cho Citigroup để ngân hàng thoát khỏi bờ vực sụp đổ. Với mức lợi nhuận lớn như vậy, vụ cứu Citigroup là một trong những khoản đầu tư có lãi nhất trong chương trình giải cứu tài chính mang tên Giải trừ nợ xấu (TARP) của Chính phủ Mỹ.

Một số nguồn tin thân cận tiết lộ với New York Times, Washington sẽ đợi cho tới khi Citigroup công bố kết quả kinh doanh quý 1 vào tháng 4 tới đây mới bắt đầu việc bán ra cổ phiếu của ngân hàng này. Với 7,7 tỷ cổ phiếu được bán ra, đây sẽ là một trong những vụ bán cổ phiếu lớn nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán Phố Wall. Phản ứng trước thông tin này, giá cổ phiếu của Citigroup đã giảm mất 3% trong phiên giao dịch ngày 29/3.

Mới chỉ một năm rưỡi trước đây, Citigroup bị khủng hoảng tài chính đẩy tới bờ vực sụp đổ. Để tránh sự đổ vỡ dây chuyền, Chính phủ Mỹ đã vội vã đầu tư 45 tỷ USD tiền thuế của dân vào Citigroup và nhất trí bảo lãnh cho 300 tỷ USD tài sản của ngân hàng này.

Hiện tại, dù còn chưa phục hồi hoàn toàn, tình hình của Citigroup đã cải thiện nhiều. Tháng 12 năm ngoái, Citigroup được các nhà chức trách Mỹ cho phép hoàn trả 20 tỷ USD tiền giải cứu và kết thúc chương trình bảo lãnh của Chính phủ liên bang. Nhờ đó, các quan chức hàng đầu của Citigroup không còn nằm dưới sự kiềm tỏa gắt gao của các quy định về tiền thưởng áp dụng cho các ngân hàng được cứu trợ.

Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ hiện vẫn nắm giữ cổ phần trị giá 25 tỷ USD trong Citigroup, tương đương với 7,7 tỷ cổ phiếu phổ thông. Cuối năm ngoái, Washington trì hoãn kế hoạch bán ra số cổ phiếu này vì Citigroup khi đó gặp khó khăn trong việc huy động vốn.

Một khi Chính phủ Mỹ bán nốt số cổ phiếu này, mối liên hệ chặt chẽ giữa Washington và Citigroup thời gian qua sẽ gần như bị cắt đứt. Tuy nhiên, Citigroup vẫn chưa hoàn toàn được “tự do”.

Mới đây, Ủy ban Điều tra khủng hoảng tài chính của Quốc hội Mỹ dự định sẽ tổ chức một phiên điều trần kéo dài hai ngày để tìm hiểu lý do vì sao Citigroup thiếu chút nữa thì sụp đổ hồi năm 2008 cũng như những rủi ro mà ngân hàng này gây ra cho hệ thống tài chính.

Trong số những nhân vật phải ra điều trần sẽ là cựu Giám đốc điều hành của Citigroup, ông Charles Prince; cựu Giám đốc quản lý rủi ro của Citigroup, ông David Bushnell; và cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ đồng thời là một nhân vật có ảnh hưởng trong đội ngũ lãnh đạo của ngân hàng này trước đây, ông Robert Rubin.

Bên cạnh đó, dù bán hết cổ phiếu của Citigroup, Chính phủ Mỹ vẫn nắm giữ một số khoản đầu tư khác vào ngân hàng này. Cả Bộ Tài chính và Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC) đều sở hữu cổ phiếu ưu đãi và chứng quyền trong Citigroup. Cả hai cơ quan này đều chưa có tuyên bố gì về việc bán lại các tài sản trên.


(Theo Vneconomy)

Popular Posts